Phòng bệnh dịch tả heo châu Phi với giải pháp an toàn sinh học

Dịch tả heo châu Phi (African swine fever-ASF) là bệnh truyền nhiễm trên heo do virus thuộc họ Asfarviridae gây ra. Bệnh diễn ra ở mọi loại heo (heo nhà, heo rừng), mọi lứa tuổi nuôi với biểu hiện sốt cao, xuất huyết, tiêu chảy và tỷ lệ chết cao có thể lên đến 100%. Virus ASF không lây sang người, do đó không phải là mối quan tâm về an toàn thực phẩm và sức khỏe cộng đồng. ASF được Tổ chức Thú y thế giới xếp vào danh mục A – nhóm bệnh nguy hiểm.

Virus ASF tồn tại lâu trong môi trường protein, chịu được nhiệt độ môi trường cao, ở 60oC phải mất 20 phút mới bất hoạt. Virus mẫn cảm đối với  ether và chloroform, virus bị vô hiệu hóa bởi NaOH 0,8‰ (30 phút), Hypochlorite – với lượng Chlorin 0,03 – 0,5% (30 phút), formalin 0,3‰ (30 phút), Ortho-phenylphenol 3% (30 phút) và các hợp chất chứa i ốt. Virus ASF tồn tại thời gian dài trong heo sau khi giết mổ, trong thân thịt đông lạnh tồn tại hơn 15 tuần, giăm bông và xúc xích chế biến chưa được nấu chín hoặc hun khói ở nhiệt độ cao tồn tại 3 – 6 tháng. Do đó các loại thức ăn chế biến từ thịt heo chưa nấu chín, bột thịt có nguồn gốc từ heo phải được coi là mối nguy hiểm tiềm tàng nếu cho heo ăn. Ở heo nhà, thời gian ủ bệnh dao động từ 5 – 15 ngày. Điều đáng lo ngại là heo bị nhiễm bệnh có thể phát tán virus hơn 48 giờ trước khi các triệu chứng bệnh bắt đầu xuất hiện và heo đã khỏi sau khi hết triệu chứng bệnh vẫn tiếp tục phát tán virus trong một tháng. Những lý do trên khiến căn bệnh trên rất khó kiểm soát.

ASF có thể lây lan qua ba con đường chính: tiếp xúc trực tiếp, tiếp xúc gián tiếp và qua vector sinh học. Virus ASF có thể lây truyền trực tiếp qua tiếp xúc với động vật bị nhiễm bệnh (heo nhà hoặc heo rừng), qua thức ăn và phụ phẩm chế biến từ động vật bị nhiễm bệnh chưa nấu chín; lây truyền gián tiếp qua các phương tiện, vật liệu như người, xe cộ, thiết bị, vật dụng chăn nuôi, thức ăn,…bị nhiễm bẩn. Thực phẩm hoặc bề mặt vật dụng có thể bị nhiễm máu, phân, nước tiểu, nước bọt, dịch tiết đường hô hấp, tinh dịch và mang virus trong một thời gian dài. Heo khỏe bị lây truyền thông qua việc tiêu thụ thực phẩm, tiếp xúc với bề mặt vật liệu bị ô nhiễm. Virus ASF cũng có thể lây truyền qua các động vật chân đốt, trong đó các loài ve mềm giống  Ornithodoros là vật chủ trung gian mang mầm bệnh. Loài ruồi, đặc biệt là giống Stomoxys spp, cũng có khả năng mang truyền cơ học virus ASF. Phương thức lây truyền phổ biến nhất đối với ASF là tiếp xúc trực tiếp và gián tiếp với mầm bệnh và là nỗ lực trọng tâm tại các trang trại nhằm giảm thiểu ASF. Những nghiên cứu về dịch bệnh ASF cho thấy 34% các vụ dịch bệnh là do thức ăn, 46% do thiết bị và người bị ô nhiễm và 19% qua phương tiện vận chuyển.

Triệu chứng bệnh ASF một số trường hợp có triệu chứng rất rõ ràng, một số trường hợp bệnh khác khó phát hiện hoặc dễ nhầm với các điều kiện khác. Thông thường, mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng dựa trên độc lực của virus và loại heo bị nhiễm bệnh. Bệnh ASF cấp tính rất nghiêm trọng và nguy hiểm, với tỷ lệ tử vong cao tới 100%, đặc biệt ở những khu vực chưa xảy ra bệnh. Thời gian bệnh từ lúc khởi phát các triệu chứng đến tử vong trong vòng 6 – 20 ngày. Bệnh ASF cấp tính được đặc trưng bởi các triệu chứng sau: Sốt cao 41-42oC. Heo ủ rũ, bỏ ăn, nằm xếp chồng vào nhau và thường rùng mình. Da đỏ hoặc tím tái, đổi màu do mất oxy, các phần xa cơ thể như mũi, tai, đuôi và chân dưới có màu xanh tím, xuất huyết ở da vùng tai, sườn. Chân yếu đứng không vững. Ho và khó thở. Nôn, tiêu chảy, phân có lẫn máu và tăng tiết dịch mắt, dịch mũi. Một số heo có biểu hiện viêm kết mạc mắt. Sảy thai trên heo nái mang thai.

Bệnh ASF mãn tính gây ra bởi các chủng virus có độc lực thấp và triệu chứng ít nghiêm trọng hơn. Bệnh ASF mãn tính thường phổ biến ở những khu vực đã xảy ra ASF và ở heo rừng. Bệnh ASF mãn tính thời gian ủ bệnh dài hơn và có thể mất nhiều ngày để các triệu chứng trở nên dễ nhận biết. Tỷ lệ tử vong dao động từ 30 – 70%. Các triệu chứng bệnh như: Sốt gián đoạn không liên tục. Heo giảm hoặc bỏ ăn. Da đỏ, có thể có vết nám hoặc tổn thương da. Ho và khó thở. Viêm khớp.

Bệnh tích ASF khi mổ khám heo bệnh chủ yếu là xuất huyết ở các cơ quan, nội tạng, tùy theo thể bệnh khác nhau mà mức độ biểu hiện khác nhau như xuất huyết các hạch lympho ở dạ dày, gan và thận. Thận xuất huyết điểm, lá lách có nhồi huyết, phổi tích dịch và xuất huyết. Da màu tối và phù nề, da vùng bụng và chân có xuất huyết. Có nhiều nước xung quanh tim, xoang ngực hoặc xoang bụng, có các điểm xuất huyết trên nắp thanh quản, bàng quang và bề mặt các cơ quan bên trong. Túi mật sưng.

Hiện nay, bệnh chưa có thuốc điều trị và chưa có vaccine phòng bệnh nên phòng bệnh bằng an toàn sinh học là chính. Để ngăn chặn virus ASF lây lan là loại bỏ tất cả đàn heo bị nhiễm bệnh. Khử trùng tất cả các vật dụng tiếp xúc heo bệnh và đảm bảo an toàn sinh học nghiêm ngặt trong chăn nuôi.

An toàn sinh học trong chăn nuôi gồm tất cả các biện pháp áp dụng nhằm ngăn ngừa và hạn chế sự lây nhiễm của các tác nhân gây bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào trang trại chăn nuôi và từ trang trại ra ngoài môi trường. An toàn sinh học bao gồm những nguyên tắc cơ bản của bất kỳ chương trình kiểm soát dịch bệnh nào như cách ly, làm sạch, khử trùng, phòng bệnh với vaccine. Cách ly là khoảng cách cần thiết giữa trang trại với khu dân cư, trại chăn nuôi khác; khoảng cách giữa các khu chuồng nuôi, nhà chứa thức ăn, khu tiêu hủy phân…; thiết lập duy trì hàng rào vật lý hoặc các quy định về khoảng cách, thời gian trống chuồng, thay giày dép, áo quần… nhằm ngăn chặn động vật, trang thiết bị, dụng cụ bị ô nhiễm xâm nhập vào khu vực chăn nuôi và ngược lại. Vệ sinh làm sạch để loại bỏ tất cả bụi bẩn và các chất hữu cơ chứa tác nhân gây bệnh bám trên bề mặt các dụng cụ, thiết bị, sàn, tường và trần nhà. Vệ sinh sát trùng thiết bị, chuồng trại chăn nuôi định kỳ và giữa các lứa nuôi. Việc sát trùng chỉ đạt hiệu quả sau khi đã vệ sinh làm sạch và đảm bảo sự phù hợp của chất sát trùng, tỷ lệ pha, sử dụng đúng cách. Dựa vào tình hình dịch tể tại địa phương, xây dựng lịch tiêm phòng vaccine những bệnh truyền nhiễm thường xảy ra cho đàn heo.

Một số biện pháp an toàn sinh học cần chú ý trong ngăn chặn ASF:

– Tránh mua heo bên ngoài. Thay vào đó hãy sử dụng vật nuôi trong trại để duy trì và phát triển quy mô đàn nuôi. Heo nhập nuôi phải được mua từ các trại an toàn dịch bệnh, biết rõ lai lịch và các vaccine đã được chủng ngừa. Nuôi cách ly lứa vật nuôi mới nhập trại trong ít nhất 1 tháng trước khi nhập đàn. Tương tự đối với gieo tinh nhân tạo, phải đảm bảo rằng nguồn tinh mua từ một nguồn an toàn và những người vận chuyển tinh phải nhận thức và thực hiện biện pháp an toàn sinh học.

– Hạn chế tối đa khách đến trại chăn nuôi. Khách vào trại phải thay quần áo, đeo ủng sạch và rửa tay sạch trước khi vào trại. Lối ra vào được kiểm soát để tránh khách vào nơi không mong muốn và chỉ được vào những khu vực nhất định trong trại.

– Phương tiện chuyên chở. Kiểm soát mọi phương tiện vận chuyển gia súc và hàng hóa ra vào trại. Phải tuân thủ tuyệt đối việc vệ sinh khử trùng trước và sau khi vận chuyển. Trang trại chăn nuôi nên xây dựng khu vực xuất heo riêng để đề phòng ô nhiễm từ những phương tiện vận chuyển. Người lái xe, người nhận hàng không được đi vào khu chăn nuôi. Bốc dỡ vận chuyển gia súc và sản phẩm từ gia súc một cách nhanh chóng và cẩn thận, đặc biệt đối với phân và xác súc vật có nguy cơ rất cao.

– Kiểm soát vật nuôi và động vật gây hại. Những vật nuôi như chó, mèo, cũng như loài gặm nhấm (chuột,…), chim, côn trùng có thể mang virus trong lông của chúng. Để giảm thiểu rủi ro, hãy kiểm soát, tránh để các động vật trên tiếp cận với heo nuôi. Giám sát chặt chẽ trang trại không có chỗ nào cho chim, chuột trú ẩn.

– Không cho heo nuôi ăn thức ăn chế biến từ thịt heo. Người chăn nuôi không cho heo ăn thức ăn thừa hoặc phụ phẩm chế biến từ nhà bếp, quán ăn, các cơ sở sản xuất thực phẩm, các loại thức ăn được chế biến từ thịt heo. Đây là một biện pháp an toàn sinh học chính của trang trại và nhà máy thức ăn chăn nuôi. 

– Liên hệ cơ quan thú y. Thông báo cho cơ quan thú y ngay khi nghi ngờ bệnh ASF mới phát sinh. Luôn trung thực và liên lạc với cơ quan thú y kịp thời, bất kỳ sự chậm trễ nào cũng có thể gây ra hậu quả tai hại cho đàn gia súc của người chăn nuôi và những người chăn nuôi khác trong khu vực.

Đây là những biện pháp quan trọng để duy trì an toàn sinh học trang trại hàng ngày. Hầu hết các biện pháp trên không quá tốn kém để thực hiện, chỉ đơn giản là thay đổi thái độ và thời gian đầu tư của người chăn nuôi. Cùng với cơ quan thú y, nhà cung cấp, cơ quan quản lý tại địa phương, người chăn nuôi có thể ngăn chặn bệnh ASF.

 T.Nguyên (Tham khảo Kemin)