ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO TRONG CHĂN NUÔI

       Gần đây công nghệ thông tin và truyền thông ICT (Information & Communication Technology) được ứng dụng nhiều trong chăn nuôi heo. Đặc biệt ICT được sử dụng nhiều trong các thiết bị chuồng trại. Thiết bị chuồng trại có thể là máng ăn, núm uống, trang thiết bị quản lý môi trường nuôi dưỡng. Các thiết bị ứng dụng  ICT có thể giúp nâng cao năng suất, giảm chi phí sản xuất. Nhưng trước khi sử dụng cần tìm hiểu các trang thiết bị  này có phù hợp với trang trại của mình hay không.

          Các thiết bị tự động hóa trong chăn nuôi heo đều cần công nghệ ICT. Nếu trại có ý định áp dụng công nghệ ICT vào trong chăn nuôi thì cần tìm hiểu lĩnh vực nào mình có thể thực hiện.

        -Lĩnh vực về môi trường nuôi dưỡng (xử lý chất thải, môi trường nuôi dưỡng),

        -Lĩnh vực về chăn nuôi,

        -Lĩnh vực về quản lý tài chính trang trại.

       Các thiết bị tiêu biểu như cảm biến nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió, lượng nước uống,…nhằm điều chỉnh tốc độ các thiết bị thông thoáng khí. Thiết bị quan sát camera (CCTV-closed circuit television). Thiết bị phúc lợi động vật (nuôi nhốt nái mang thai tập trung, cho ăn tự động,…)

        Hệ thống giám sát môi trường chăn nuôi : thông qua các cảm biến nhiệt độ, độ ẩm, nguồn điện, hỏa hoạn, xilo cám, khí độc…Trại có thể biết được các bất thường về chuồng trại theo thời gian thực. Trại sẽ được báo động sớm sự cố để hạn chế những thiệt hại nếu có. Dữ liệu được thu thập theo ngày (nhiệt độ cao nhất, thấp nhất, chênh lệch, bình quân), theo tháng, theo mùa,… sẽ giúp dễ dàng phân tích nguyên nhân. Các dữ liệu này có thể  kiểm tra thông qua điện thoại thông minh theo thời gian thực.

          Người quản lý dành nhiều thời gian ở bên trong trại là phương pháp tốt nhất. Tuy nhiên, trên thực tế rất khó để họ có mặt trong trại 24/24. Thông qua camera giám sát người quản lý có thể phát hiện kịp thời các tình huống khẩn cấp.

          Thiết bị cấp cám tự động cho nái mang thai và nái đẻ thông qua mã nhận dạng sóng vô tuyến. Một thiết bị này có thể quản lý 40 – 50 nái. Chuồng trại nên rộng  gấp 1,3 lần so với chuồng trại thông thường. Nái được nuôi trong giai đoạn 4 tuần sau phối đến 1 – 2 tuần trước khi đẻ. Kỹ thuật thiết bị này áp dụng là RFID (Radio-Frequency Identification), công nghệ nhận dạng đối tượng bằng sóng vô tuyến. Dựa vào đối tượng được nhận diện mà có thể điều chỉnh được lượng cám cho ăn.

       Những ưu điểm mà thiết bị này mang lại :

  • Cho ăn chính xác theo từng cá thể, giảm tình trạng lãng phí cám.
  • Phòng ngừa tình trạng nái béo phì.
  • Nâng cao năng suất do quản lý theo từng cá thể.

       Thiết bị cân và lựa chọn heo xuất chuồng : thiết bị giúp lựa chọn heo đủ trọng lượng xuất chuồng. Thiết bị không tốn nhiều diện tích lắp đặt, làm bằng inox chắc chắn. Có 4 cảm biến lực ở 4 góc giúp cân trọng lượng 1 cách chính xác, điều này sẽ đảm bảo trọng lượng khi xuất chuồng.

                   Th.s Huỳnh Thị Bích Nga (Tổng hợp nguồn từ Tạp chí Koreapork).