Sự cần thiết của việc đánh giá thể trạng bò sữa
05/12/2017 Việc đánh giá thể trạng bò sữa giúp người chăn nuôi kịp thời điều chỉnh chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, nâng cao sức khỏe, khả năng sinh sản và sản xuất sữa của bò. Theo đó, có thể đánh giá thể trạng bò bằng cách quan sát bên hông bò ở các vị trí như: mõm xương chậu, mõm xương chóp đuôi, mõm xương mông, xương sườn cụt hoặc nhìn phía sau bò tại các điểm như xương sườn cụt, dây chằng xương cùng, mõm xương chậu, mõm xương mông, mõm xương chóp đuôi, dây chằng khấu đuôi.Thời điểm thích hợp cho việc kiểm tra thể trạng bò là khi bò đẻ, đỉnh chu kỳ sữa, vào ngày 200 của chu kỳ sữa và lúc cạn sữa. Thang điểm đánh giá thể trạng bò như sau:
– Điểm 1 – 1,5: Bò quá gầy hay còn gọi “da bọc xương”, sức khỏe, khả năng sản xuất sữa và sinh sản của bò sẽ kém.
Nhìn từ bên hông: xương đuôi và xương sống có hình răng cưa; Nhìn từ phía sau: tất cả chổ lồi của xương đều thấy rõ và có góc cạnh bén. Có những lõm sâu xung quanh khấu đuôi và giữa những mõm xương chóp đuôi, da giữa khấu đuôi và vùng chỏm mông có nhiều nếp gấp. Những dây chằng và âm hộ lộ rõ, các chân gầy ốm với bắp thịt mỏng.
– Điểm 2: Bò gầy, sức khỏe không có vấn đề nhưng sinh sản kém, sản lượng sữa giảm. Dễ sờ thấy xương chậu; các dây chằng lộ rõ, vùng da xung quanh đuôi và mông lõm sâu, da giữa khấu đuôi và chỏm mông có các nếp gấp. Quan sát xương sườn cụt: thấy rõ những xương sườn cụt ở khoảng cách giữa đầu xương sườn cụt và gai xương sống là 3/4.
– Điểm 2,25: Quan sát xương sườn cụt: thấy rõ những xương sườn cụt ở khoảng cách giữa đầu xương sườn cụt và gai xương sống là ½.
– Điểm 2,5: đây là điểm thể trạng có thể chấp nhận được nhưng không nên có quá 10% số bò trong đàn có điểm thể trạng là 2,5. Ở điểm thể trạng này, cả mõm xương chậu và mõm xương chóp đuôi có góc cạnh, vùng xung quanh chóp đuôi và mông lõm xuống, các dây chằng không lộ rõ như tại điểm 2, có thể nhìn thấy đốt xương sống nhưng không lộ rõ từng đốt.
– Điểm 2,75: quan sát thấy mõm xương chóp đuôi được phủ lớp đệm mỡ. Nếu bò đẻ ở thể trạng này sẽ mau xuống sức, năng suất sữa giảm nhanh, khả năng phục hồi buồng trứng và tử cung chậm nên thời gian động dục lại sau khi sinh kéo dài.
– Điểm 3: bò trong tình trạng khỏe mạnh, cho sữa tốt. Vùng quanh khấu đuôi lõm vào nhưng da không có nếp gấp, có thể nhìn thấy xương sống nhưng các đốt xương tròn đầy, tỳ nhẹ tay có thể sờ thấy đầu các xương sườn cụt và xương chậu; có hình chữ V giữa mõm xương chậu, xương chóp đuôi và mõm xương mông, trong đó mõm xương chậu tròn cạnh.
– Điểm 3,25: có thể nhìn thấy dây chằng khấu đuôi và xương cùng rõ ràng.
– Điểm 3,5: Đây là điểm thể trạng phù hợp cho bò đẻ và bò cạn sữa cho đến khi đẻ. Vào đỉnh của chu kỳ sữa, điểm thể trạng có thể giảm 0,5 – 1 điểm so với lúc đẻ nhưng không được thấp hơn 2.
Quan sát có thể thấy mông bò hơi lõm, thấy được xương cùng, có thể không nhìn thấy dây chằng của khấu đuôi nhưng vẫn có thể thấy dây chằng của xương cùng; vùng xung quanh khấu đuôi tròn, đầy đặn nhưng không quá mập. Có thể thấy chữ U giữa mõm xương chóp đuôi và mõm xương chậu.
– Điểm 3,75: khó thấy được xương cùng và xương khấu đuôi cũng như dây chằng của khấu đuôi và xương cùng.
– Điểm 4: Bò trong tình trạng mập.
Không thể nhìn thấy các dây chằng, vùng xung quanh khấu đuôi tròn đầy và có các ngấn mỡ, không thấy rõ hõm hông, lưng phẳng, không sờ thấy xương sườn cụt cả khi ấn mạnh tay và chỉ sờ được xương chậu khi tỳ mạnh tay. Những bò ở điểm thể trạng này, khoảng 2 tuần trước khi sinh thường ăn ít, giảm thể trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe.
– Điểm 4,25: mõm xương mông phẳng, vùng giữa mõm xương chóp đuôi và mõm xương chậu mập mỡ tạo vạch đường thẳng, những mấu xương sườn cụt có thể được nhìn thấy
– Điểm 4,5: mõm xương mông phẳng, vùng giữa mõm xương chóp đuôi và mõm xương chậu mập mỡ tạo vạch đường thẳng, những mấu xương sườn cụt và mõm xương chóp đuôi không thể nhìn thấy được
– Điểm 5: bò quá mập.
Da căng bóng, xương chậu và xương chỏm mông bị mỡ phủ kín và khó sờ thấy, vùng mông tròn đầy, khấu đuôi mập mỡ. Ở điểm thể trạng này, bò có chu kỳ động dục không đều, có thể đẻ khó hoặc không đậu thai, khả năng sản xuất sữa cũng không ổn định. Nếu lúc đẻ, bò ở điểm thể trạng này thì sau khi đẻ bò thường giảm ăn, thể trọng giảm, việc huy động mỡ dự trữ của cơ thể quá mức để tạo sữa dễ dẫn đến hiện tượng keton huyết, gây rối loạn trao đổi chất, giảm năng suất sữa và khả năng đậu thai, cũng như các bệnh về chân móng, nhất là bại liệt sau khi sinh.
Thông thường, những con bò có điểm thể trạng < 2,75 và > 3,25 sẽ cho năng suất sữa giảm. Căn cứ vào điểm thể trạng nếu thấy bò quá gầy trong giai đoạn cho sữa cần phải tăng mức năng lượng trong khẩu phần và lượng chất khô hấp thu. Nên tăng điểm thể trạng của bò vào giữa và cuối chu kỳ sữa để khi vào đẻ điểm thể trạng bò khoảng 3,5 là đạt yêu cầu. Trường hợp bò quá mập vào cuối chu kỳ sữa nên giảm mức năng lượng trong khẩu phần.
Vào đầu chu kỳ sữa những con cho sản lượng sữa cao, có thể huy động năng lượng từ nguồn mỡ dự trữ của cơ thể để sản xuất sữa, từ đó điểm thể trạng sẽ giảm, nhưng tuyệt đối không để giảm quá 0,5 điểm thể trạng trong 30 ngày đầu khai thác sữa
Như vậy, để đảm bảo chăn nuôi bò sữa đạt hiệu quả cao, cần đảm bảo điểm thể trạng của bò đạt các mức sau:
– Lúc đẻ: điểm thể trạng là 3,5 (3,25 – 3,75)
– Từ 1 – 30 ngày sau sinh: điểm thể trạng 3,0 (2,75 – 3,25)
– Từ 31 – 100 ngày: điểm thể trạng 2,75 (2,5 – 3,0)
– Từ 101 – 200 ngày: điểm thể trạng 3,0 (2,75 – 3,25)
– Từ 201 – 300 ngày: điểm thể trạng 3,25 (3,0 – 3,75)
– Thời điểm cạn sữa (> 300 ngày): điểm thể trạng là 3,5 (3,25 – 3,75)

ThS. Liễu Kiều






Năm nay : 33459
Tổng số lượt truy cập : 1050434
Lượt truy cập hôm nay : 3185
Đang truy cập : 7