Kết quả quan trắc, cảnh báo môi trường nước nuôi trồng thủy sản nước ngọt (Ngày thu mẫu 25/4/2022)

1. Chất lượng nước

a) Huyện Củ Chi

– Chỉ tiêu lý hóa

+ Các chỉ số độ mặn (1‰), NH4-N (< 0,01 – 0,29 mg/l), DO (4,8 – 6,4 mg/l), COD (2,24 – 9,04 mg/l),  BOD5 (9,79 – 24,07 mg/l), Cd và sulfua (không phát hiện), Pb (KPH – 0,0023 mg/l), TSS (30 – 50 mg/l) đều nằm trong giới hạn cho phép;

+ Chỉ số pH tại Kênh Tỉnh Lộ 17 xã Thái Mỹ nằm trong giới hạn cho phép (7,12), tại khu vực Kênh 38 xã Thái Mỹ và Kênh Đông xã Phước Hiệp thấp hơn giới hạn cho phép (6,86 – 6,97);

+ Chỉ số độ kiềm tại các khu vực đều thấp hơn giới hạn cho phép (17,5 – 19,5 mg CaCO3/l);

+ Chỉ số phosphat tổng tại khu vực Kênh Tỉnh Lộ 17 xã Thái Mỹ và Kênh Đông xã Phước Hiệp đều không phát hiện, trừ khu vực Kênh 38 xã Thái Mỹ – huyện Củ Chi cao hơn giới hạn cho phép (0,51 mg/l).

– Chỉ tiêu vi sinh: đa số các khu vực đều có sự hiện diện của Aeromonas (0,17 – 0,27×103 CFU/ml) và Coliform (2,4×103-4,6×103 MNP/100ml) với mật độ thấp; E. Coli (4,6×102 MNP/100ml) với mật độ cao.

* Thành phố Thủ Đức

– Chỉ tiêu lý hóa

+ Các chỉ số độ mặn (1‰), NH4N (0,09 mg/l),  DO (5,2 mg/l), COD (3,20 mg/l), TSS (31 mg/l) đều nằm trong giới hạn cho phép;

+ Chỉ số pH thấp hơn giới hạn cho phép (6,93);

+ Chỉ số độ kiềm thấp hơn giới hạn cho phép  (27,0 mg CaCO3/l) xã Đa Phước và Kinh Độc Lập xã Bình lợi cao hơn giới hạn cho phép;

+ Khu vực Bún Xẻo xã Đa Phước không có sự hiện diện của E. Coli, các chỉ số Cd, Pb, photphat tổng và sulfua (không phát hiện);

+ Chỉ số BOD5 cao hơn giới hạn cho phép (28,15mg/l);

– Chỉ tiêu vi sinh: có sự hiện diện của AeromonasColiform  với mật độ thấp; E. Coli với mật độ cao.

b) Huyện Bình Chánh

– Chỉ tiêu lý hóa

+ Các chỉ số độ mặn (1 – 3‰), độ kiềm (75,5 – 93,5 mg CaCO3/l), DO (4,32 – 5,60 mg/l), Pb (KPH – 0,0052 mg/l), Cd và sulfua (không phát hiện) đều nằm trong giới hạn cho phép;

+ Chỉ số pH tại đa số các khu vực đều nằm trong giới hạn cho phép (7,07 – 7,27); trừ khu vực Cầu Ấp Quán và Rạch Bà Tỵ xã Tân Nhựt, Kinh Thầy Thuốc và Kinh Độc Lập xã Bình Lợi thấp hơn giới hạn cho phép (6,85 – 6,95);

+ Chỉ số NH4N tại các khu vực đều vượt giới hạn cho phép (1,91 – 3,79mg/l);

+ Chỉ số COD thấp hơn giới hạn cho phép (7,52 – 12,40 mg/l);

+ Chỉ số BOD5 tại đa số các khu vực đều nằm trong giới hạn cho phép (17,14 – 24,89 mg/l), trừ khu vực Cầu Ấp Quán và Rạch Bà Tỵ xã Tân Nhựt cao hơn giới hạn cho phép (26,11 – 26,93mg/l);

+ Chỉ số photphat tổng tại khu vực Cầu Cống Lớn và Cầu Ông Niệm xã Phong Phú không phát hiện, các khu vực còn lại đều cao hơn giới hạn cho phép (0,24 – 0,82mg/l),

+ Chỉ số TSS tại các khu vực đều vượt giới hạn cho phép (65 – 110 mg/l);

– Chỉ tiêu vi sinh: đa số các khu vực đều có sự hiện diện của Aeromonas trong giới hạn cho phép (0,11 – 0,91×103 CFU/ml); trừ khu vực Rạch Bà Tỵ xã Tân Nhựt, Cầu Cống Lớn xã Phong Phú, Kinh Thầy Thuốc và Kinh Độc Lập xã Bình lợi có sự hiện diện của Aeromonas cao hơn giới hạn cho phép (2,095 – 2,19×103 CFU/ml);

+ Các khu vực có sự hiện diện của Coliform trong giới hạn cho phép (2,4 x102 – 2,4 x103 MNP/100 ml); trừ khu vực Cầu Cống Lớn xã Phong Phú, Ông Thìn khu vực còn lại đều cao hơn giới hạn cho phép (2,4 x102 – 2,4 x104 MNP/100 ml).

2. Khuyến cáo

– Hiện nay thời tiết giao mùa có mưa, nhiệt độ thường biến động lớn khi có mưa dễ gây sốc nhiệt, dễ phát sinh bệnh. Hộ nuôi thủy sản (cá thương phẩm, cá cảnh,…) cần lưu ý: thường xuyên theo dõi các thông báo về quan trắc của các cơ quan chuyên môn, khi cấp nước cần theo dõi và kiểm tra các chỉ tiêu môi trường, có biện pháp xử lý phù hợp nhằm hạn chế rủi ro;

– Khu vực có chỉ số TSS cao, trước khi lấy nước cần lắng lọc trước khi cấp vào ao nuôi. Định kỳ 7 – 10 ngày sử dụng chế phẩm vi sinh nhằm cải thiện chất lượng nước, góp phần hạn chế việc thay nước thường xuyên;

– Nồng độ NH4-N tại các vị trí đều vượt giới hạn cho phép, các hộ nuôi thủy sản hạn chế lấy nước. Trong trường hợp lấy nước phải sử dụng ao lắng và tuân thủ quy trình xử lý, đặc biệt xử lý giảm thấp nồng độ NH4-N xuống ngưỡng cho phép: Tăng cường lượng oxy hòa tan, sử dụng chế phẩm sinh học cho phép (vi sinh, enzyme, yucca, …).

– Đối với nguồn nước cấp đầu vào: cần tuân thủ quy trình xử lý ban đầu (diệt tạp, diệt khuẩn bằng các hóa chất được phép sử dụng) nhằm hạn chế sự phát triển của vi sinh vật gây bệnh cho thủy sản nuôi, đặc biệt các khu vực nguồn nước tự nhiên có sự xuất hiện Coliform, E.Coli phải có giải pháp kiểm soát hiệu quả: định kỳ bổ sung chế phẩm sinh học (vi sinh, enzyme,…) và quản lý tốt chất lượng nguồn nước trong quá trình nuôi;

– Bổ sung thêm các Vitamin, khoáng chất trong khẩu phần ăn để tăng sức đề kháng. Tăng cường sử dụng chế phẩm vi sinh nhằm cải thiện chất lượng nước, góp phần hạn chế việc thay nước thường xuyên.

                                                        Th.s Nguyễn Thị Gái Nhỏ

 (tổng hợp – Nguồn từ Chi cục Thủy sản TP.HCM)