Kết quả quan trắc, cảnh báo môi trường nước ngọt nuôi trồng thủy sản (Ngày thu mẫu 12/8/2022)
31/08/20221. Chất lượng nước vùng nuôi thủy sản nước ngọt
a) Khu vực huyện Củ Chi
– Chỉ tiêu lý hóa
+ Các chỉ tiêu pH (6,53 – 6,69), độ mặn (0‰), NH4-N (< 0,01 – 0,17 mg/l), DO (4,74 – 5,50mg/l), COD (1,76 – 2,10mg/l), BOD5 (14,69 – 21,22 mg/l), Cd và sulfua (không phát hiện), Pb (KPH – 0,0026mg/l), photphat tổng (KPH – 0,21 mg/l), TSS (15 – 18 mg/l) đều nằm trong giới hạn cho phép;
+ Chỉ số độ kiềm tại các khu vực đều thấp hơn giới hạn cho phép (15,5 – 19,5 mg CaCO3/l).
– Chỉ tiêu vi sinh: đa số các khu vực đều có sự hiện diện của Aeromonas (< 10 – 0,10 x 103CFU/ml);
+ Khu vực Kênh 38 và Kênh Đông có sự hiện diện của Coliform với mật đô thấp (2,4 – 4,6 x 103MPN/100 ml), trừ khu vực Kênh Tỉnh lộ 17 có sự hiện diện của Coliform với mật độ cao (2,4 x 104MPN/100 ml);
+ Các khu vực có sự hiện diện của E. Coli với mật độ cao (4,6 x 102 – 4,6 x 103MPN/100 ml).
– Chỉ tiêu lý hóa
+ Các chỉ số pH (6,62), độ mặn (0‰), NH4–N (< 0,01mg/l), DO (5,45 mg/l), COD (1,55 mg/l), BOD5 (4,89 mg/l), Cd và sulfua (không phát hiện), Pb (KPH – 0,0026), photphat tổng (KPH – 0,21 mg/l), TSS (20 mg/l) đều nằm trong giới hạn cho phép. Độ kiềm thấp hơn giới hạn cho phép (20,0 mg CaCO3/l).
– Chỉ tiêu vi sinh: có sự hiện diện của Aeromonas (<10 CFU/ml) với mật độ thấp; Coliform (1,1 x 104MPN/100 ml) và E. Coli (2,4 x 103MPN/100 ml) với mật độ cao.
c) khư vực huyện Bình Chánh
– Chỉ tiêu lý hóa
+ Các chỉ số pH (7,06 – 7,14), độ mặn (0‰), DO (4,54 – 5,20 mg/l), Cd và sulfua (không phát hiện), Pb (KPH – 0,0019) đều nằm trong giới hạn cho phép;
+ Chỉ số độ kiềm tại đa số các khu vực đều nằm trong giới hạn cho phép (67,5 – 115,0mg CaCO3/l), trừ khu vực Ông Thìn và Bún Xẻo thấp hơn giới hạn cho phép (50,5 – 57,0 mg CaCO3/l);
+ Chỉ số NH4–N cao hơn giới hạn cho phép (1,51 – 6,40 mg/l);
+ Chỉ số COD thấp hơn giới hạn cho phép (6,00- 11,76 mg/l);
+ Chỉ số BOD5 khu vực Bún Xẻo nằm trong giới hạn cho phép (24,48 mg/l), các khu vực còn lại đều cao hơn giới hạn cho phép (31,82 – 60,34 mg/l);
+ Chỉ số photphat tổng tại khu vực Cầu Cống Lớn, Cầu Ông Niệm, Ông Thìn và Bún Xẻo nằm trong giới hạn cho phép (0,10 – 0,13 mg/l), các khu vực còn lại đều cao hơn giới hạn cho phép (0,23 – 0,34 mg/l);
+ Chỉ số TSS tại các khu vực đều vượt giới hạn cho phép (100 – 155 mg/l).
– Chỉ tiêu vi sinh: khu vực Cầu Cống Lớn, Cầu Ông Niệm, Ông Thìn và Bún Xẻo có sự hiện diện của Aeromonas với mật độ thấp (0,01 – 0,325 x 103 CFU/ml), các khu vực còn lại có sự hiện diện của Aeromonas với mật độ cao (1,00 – 1,25 x 103 CFU/ml);
+ Khu vực Cầu Ông Niệm, Ông Thìn, Bún Xẻo và Kinh Độc Lập có sự hiện diện của Coliform với mật độ thấp (2,4 – 4,6 x 103MPN/100 ml); các khu vực còn lại có sự hiện diện của Coliform với mật độ cao (1,1 – 2,4×104MPN/100 ml);
+ Đa số các khu vực có sự hiện diện của E. Coli < 3MPN/100 ml, trừ khu vực Kinh Độc Lập có sự hiện diện của E. Coli với mật độ thấp (4,6 x 102MPN/100 ml).
2. Khuyến cáo
– Hiện nay vào mùa mưa nhiệt độ thường biến động lớn, dễ gây sốc nhiệt, phát sinh bệnh. Hộ nuôi thủy sản (cá thương phẩm, cá cảnh,…)
– Nồng độ NH4-N tại các vị trí vượt giới hạn cho phép, các hộ nuôi thủy sản hạn chế lấy nước. Trong trường hợp lấy nước phải sử dụng ao lắng và tuân thủ quy trình xử lý, đặc biệt xử lý giảm thấp nồng độ NH4-N xuống ngưỡng cho phép: Tăng cường lượng oxy hòa tan, sử dụng chế phẩm sinh học cho phép (vi sinh, enzyme, yucca, ..);
– Khu vực có chỉ số TSS cao, trước khi lấy nước cần lắng lọc trước khi cấp vào ao nuôi. Định kỳ 7 – 10 ngày sử dụng chế phẩm vi sinh nhằm cải thiện chất lượng nước, góp phần hạn chế việc thay nước thường xuyên;
– Đối với nguồn nước cấp đầu vào: cần tuân thủ qui trình xử lý ban đầu (diệt tạp, diệt khuẩn bằng các hóa chất được phép sử dụng) nhằm hạn chế sự phát triển của vi sinh vật gây bệnh cho thủy sản nuôi, đặc biệt các khu vực nguồn nước tự nhiên có sự xuất hiện Coliform, E.Coli phải có giải pháp kiểm soát hiệu quả: định kỳ bổ sung chế phẩm sinh học (vi sinh, enzyme,…) và quản lý tốt chất lượng nguồn nước trong quá trình nuôi;
– Bổ sung thêm các Vitamin, khoáng chất trong khẩu phần ăn để tăng sức đề kháng. Tăng cường sử dụng chế phẩm vi sinh nhằm cải thiện chất lượng nước, góp phần hạn chế việc thay nước thường xuyên;
Lưu ý: thường xuyên theo dõi các thông báo về quan trắc của các cơ quan chuyên môn, khi cấp nước cần theo dõi và kiểm tra các chỉ tiêu môi trường, có biện pháp xử lý phù hợp.
(Số liệu từ trích nguồn Chi cục Thủy sản)
ThS. Nguyễn Thị Gái Nhỏ
(Phòng kỹ thuật – Trung tâm Khuyến nông)







Năm nay : 107997
Tổng số lượt truy cập : 1124972
Lượt truy cập hôm nay : 3310
Đang truy cập : 7