Bệnh viêm da nổi cục trên trâu bò

        Bệnh viêm da nổi cục (tên tiếng Anh là Lumpy Skin Disease, viết tắt là LSD), còn được gọi là bệnh da sần, là bệnh truyền nhiễm do một loại vi rút thuộc họ Poxviridae gây ra trên trâu, bò. Vi rút không gây bệnh trên người. Đường truyền lây chủ yếu qua côn trùng đốt như muỗi, ruồi, ve; bệnh cũng có thể lây truyền do vận chuyển trâu, bò mang mầm bệnh, sử dụng chung máng uống, khu vực cho ăn, sữa, tinh dịch và qua tiếp xúc trực tiếp.

1. Đặc điểm của vi rút gây bệnh

       Vi rút gây bệnh viêm da nổi cục thuộc họ Poxviridae, chi Capripoxvirus, cùng chi với vi rút gây bệnh đậu trên dê, cừu.

        Vi rút có thể bị tiêu diệt ở nhiệt độ 55oC trong 2 giờ, 65oC trong 30 phút. Vi rút có thể được hồi phục từ những nốt sần trên da được giữ ở nhiệt độ -80oC trong 10 năm và dịch nuôi cấy mô nhiễm vi rút được bảo quản ở nhiệt độ 4oC trong 6 tháng.

        Vi rút nhạy cảm với môi trường pH kiềm hoặc a xít; có thể tồn tại ở môi trường pH = 6,6 – 8,6 trong 5 ngày ở nhiệt độ 37oC.

        Vi rút viêm da nổi cục rất ổn định, tồn tại trong thời gian dài ngoài môi trường, đặc biệt là ở dạng vảy khô; tồn tại trong các nốt da hoại tử trên 33 ngày, trong các lớp vảy khô lên đến 35 ngày và ít nhất 18 ngày trong da phơi khô. Vi rút nhạy cảm với ánh sáng mặt trời và chất tẩy rửa có chứa dung môi lipid, nhưng trong điều kiện môi trường tối và ẩm ướt, ví dụ như chuồng trại bị ô nhiễm, vi rút có thể tồn tại trong nhiều tháng.

        Hóa chất sử dụng để diệt vi rút viêm da nổi cục bao gồm ether (20%), chloroform, formalin (1%), phenol (2% trong 15 phút), sodium hypochlorite (2 – 3%), hợp chất iodine (pha loãng 1:33), Virkon (2%), hợp chất amoni bậc bốn (0,5%) và một số chất tẩy rửa như sodium dodecyl sulphate.

2. Đặc điểm dịch tễ

        Động vật mẫn cảm đối với vi rút viêm da nổi cục gồm trâu, bò. Vi rút viêm da nổi cục không lây sang người và không gây bệnh trên người. Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh khoảng 10 – 20%; tỷ lệ chết khoảng 1 – 5%. Thời gian ủ bệnh trung bình khoảng 4 – 14 ngày.

        Đường truyền lây chủ yếu qua côn trùng đốt như muỗi, ruồi, ve; bệnh cũng có thể lây truyền do vận chuyển trâu, bò mang mầm bệnh, sử dụng chung máng uống, khu vực cho ăn, sữa, tinh dịch và qua tiếp xúc trực tiếp.

        Bệnh thường xảy ra theo mùa, chủ yếu vào những tháng có thời tiết ấm, khi côn trùng hoạt động mạnh và phong phú nhất, gây thiệt hại về năng suất do sản lượng sữa giảm mạnh, giảm khả năng sinh sản, sảy thai, tổn thương da, giảm tăng trọng, gia súc có thể chết, gây tổn thất về kinh tế do hạn chế vận chuyển và thương mại. 

3. Triệu chứng, bệnh tích

        Trâu, bò mắc bệnh có những dấu hiệu dưới đây:

        – Sốt cao, có thể trên 41oC.

        – Giảm năng suất sữa rõ rệt ở gia súc đang cho con bú.

        – Suy nhược, bỏ ăn và hốc hác.

        – Viêm mũi, viêm kết mạc và tiết nhiều nước bọt.

        – Sưng hạch bạch huyết bề mặt.

       – Hình thành các nốt sần có đường kính từ 2–5 cm, đặc biệt là ở da đầu, cổ, chân, bầu vú, cơ quan sinh dục và đáy chậu trong vòng 48 giờ sau khi bắt đầu phản ứng sốt. Các nốt sần này có hình tròn, chắc, tròn và nhô cao, liên quan đến da, mô dưới da và đôi khi cả các cơ bên dưới.

      – Các nốt sần lớn có thể bị hoại tử và cuối cùng là xơ hóa và tồn tại trong vài tháng; để lại các vết sẹo có thể tồn tại vĩnh viễn.

       – Các mụn nước, vết hoại tử và vết loét có thể xuất hiện ở màng nhầy của miệng và đường tiêu hóa cũng như trong khí quản và phổi.

        – Các chân và các bộ phận vùng bụng khác của cơ thể, chẳng hạn như bao da, ức, bìu và âm hộ, có thể bị tiết dịch, khiến con vật không muốn di chuyển.

        – Bò đực có thể bị vô sinh vĩnh viễn hoặc tạm thời.

        – Bò mang thai có thể sảy thai.

Một số hình ảnh về dấu hiệu của bệnh viêm da nổi cục

4. Chẩn đoán bệnh

        Chẩn đoán dựa vào các triệu chứng, bệnh tích xuất hiện trên bò bệnh như:  biểu hiện sốt và các nốt sần đặc trưng trên da trâu (nốt sần có đường kính từ 2 – 5 cm), đặc biệt là ở da đầu, cổ, chân, bầu vú, cơ quan sinh dục

        Chẩn đoán xác định ở phòng thí nghiệm: lấy mẫu bệnh phẩm (da tổn thương, vảy, dịch tiết, nước bọt, máu được chống đông, …), sử dụng kỹ thuật PCR để phát hiện kháng nguyên của vi rút viêm da nổi cục.

5.Phòng bệnh

        Các biện pháp phòng, chống bệnh chính bao gồm:

        – Chủ động theo dõi, giám sát để kịp thời phát hiện sớm các trường hợp trâu, bò mắc bệnh.

        – Tiêu hủy trâu, bò mắc bệnh

        – Tiêm phòng vắc xin cho trâu, bò định kỳ hàng năm.

        – Vệ sinh, tiêu độc khử trùng và tiêu diệt vật chủ trung gian truyền bệnh (ruỗi, muỗi, côn trùng hút máu,…) tại khu vực chuồng nuôi.

                                                                                                                                      TN
(Nguồn tham khảo: Một số đặc điểm của bệnh viêm da nổi cục – Trung tâm Khuyến nông Quốc gia)