Kết quả quan trắc, cảnh báo môi trường nước nuôi trồng nước lợ (Ngày thu mẫu 28/7/2022)
16/08/20221. Kết quả chất lượng nước vùng nuôi tôm
a) Huyện Nhà Bè
– Chỉ tiêu lý hóa
+ Chỉ số NH4-N (< 0,01 mg/l), DO (4,48 – 4,55 mg/l), COD (4,00 – 5,28 mg/l), BOD5 (10,23 – 17,50 mg/l), Cd và Pb (không phát hiện), photphat tổng và sunfua (không phát hiện), độ trong, nhiệt độ nằm trong giới hạn cho phép;

+ Chỉ số pH tại khu vực Cầu Sóc Vàm và Bến Đò Kinh Lộ nằm trong giới hạn cho phép (7,07 – 7,27), khu vực Rạch tôm thấp hơn giới hạn cho phép (6,76);
+ Chỉ số độ mặn (0 – 1‰), độ kiềm (22,0 – 37,0mg CaCO3/l) thấp hơn giới hạn cho phép;
+ Chỉ số TSS tại các khu vực đều vượt giới hạn cho phép (125 – 130mg/l).
– Chỉ tiêu vi sinh: đa số các khu vực có sự hiện diện của Aeromonas (0,05 – 0,415×103CFU/ml) với mật độ thấp. Coliform (2,4×104MPN/100ml) và E.Coli (1,1×103 – 4,6×103MPN/100ml) với mật độ cao.
b) Huyện Cần Giờ
– Chỉ tiêu lý hóa
+ Chỉ số NH4-N (<0,01mg/l), DO (4,48 – 4,62mg/l), COD (2,48 – 7,84 mg/l), Cd và Pb (không phát hiện), photphat tổng và sunfua (không phát hiện), nhiệt độ, độ trong tại các khu vực nằm trong giới hạn cho phép;
+ Chỉ số pH tại đa số các khu vực đều nằm trong giới hạn cho phép (7,00 – 7,39); trừ khu vực Bông Giếng, Rạch Đước (BK), Kinh Bà Tổng và Kinh Hốc Hỏa thấp hơn giới hạn cho phép (6,73 – 6,94);
+ Độ mặn tại đa số các khu vực nằm trong giới hạn cho phép (5 – 11‰). Trừ khu vực Bông Giếng, Rạch Đước (BK), Kinh Bà Tổng, Kinh Hốc Hỏa và Rạch Đước (TTH) thấp hơn giới hạn cho phép (1 – 3‰);
+ Độ kiềm tại đa số khu vực đều thấp hơn giới hạn cho phép (21,0 – 55,5mg CaCO3/l);
+ Chỉ số BOD5 tại đa số các khu vực đều nằm trong giới hạn cho phép (5,65 – 23,60mg/l); trừ khu vực Rạch Gốc Tre, Cống T3 và Rạch Ông Thành cao hơn giới hạn cho phép (26,15 – 39,30mg/l);
+ Chất rắn lơ lửng TSS tại các khu vực đều vượt giới hạn cho phép (90 – 180mg/l).
– Chỉ tiêu vi sinh: khu vực Tắc Tây Đen, Doi Tiều, Rạch Gốc Tre, Cống T3 và Rạch Ông Thành có sự hiện diện của Vibrio spp với mật độ thấp (0,01 – 0,095×103CFU/ml). Khu vực Bông Giếng, Rạch Đước (BK), Kinh Bà Tổng, Kinh Hốc Hỏa và Rạch Đước (TTH) có độ mặn (<5‰) có sự hiện diện của Aeromonas với mật độ thấp (<10 – 0,12×103CFU/ml); không có sự hiện diện của Vibrio phát sáng (CFU/ml);
+ Khu vực Bông Giếng, Tắc Tây Đen, Cống T3 và Rạch Ông Thành có sự hiện diện của Coliform với mật độ thấp (2,4×103 – 4,6×103MPN/100ml), các khu vực còn lại có sự hiện diện của Coliform với mật độ cao (2,4×104 MPN/100ml);
+ Các khu vực đều có sự hiện diện của E.Coli với mật độ cao (2,4×102 – 2,4×103MPN/100ml).
2. Kết quả chất lượng nước vùng nuôi nhuyễn thể huyện Cần Giờ
– Chỉ tiêu lý hóa
+ Độ pH nằm trong giới hạn thích hợp (7,13 – 7,90);
+ Độ mặn tại các khu vực dao động trong khoảng (24 – 28‰), riêng khu vực Đuôi Sam (4) có độ mặn 13‰;
+ Độ kiềm tại các khu vực trong khoảng (66,0 – 102,5mg CaCO3/l); NH4-N (<0,01mg/l);
+ COD tại các khu vực nằm trong khoảng (3,04 – 5,55mg/l);
+ BOD5 tại khu vực Đuôi Sam (4) (35,10mg/l), các khu vực còn lại dao động trong khoảng (286,5 – 480,5mg/l);
+ Chỉ số TSS vượt giới hạn cho phép (120 – 150mg/l);
+ Cd, Pb, sulfua và photphat tổng không khát hiện.
– Chỉ tiêu vi sinh: đa số các khu vực có sự hiện diện của Vibrio spp với mật độ thấp (0,125 – 0,98×103CFU/ml). Trừ khu vực Sân Xim, Sân Tư Trung, Sân Quẹo, Hòa Hiệp và Đầu Vàm TA có sự hiện diện của Vibrio spp với mật độ cao (1,25 – 4,70×103CFU/ml);
+ Khu vực Sân Xim, Sân Tư Trung, Sân Quẹo, Vàm Long Hòa, Hòa Hiệp và Đầu Vàm TA có sự hiện diện của Vibrio phát sáng (5 – 20CFU/ml); các khu vực còn lại không có sự hiện diện của Vibrio phát sáng;
+ Khu vực Đuôi Sam có sự hiện diện của Coliform (2,4×103MPN/100ml) và E. Coli (2,4×102MPN/100ml) với mật độ cao. Các khu vực còn lại <3MPN/100ml.
3. Khuyến cáo
– Đối với nuôi tôm
+ Nguồn nước cấp đầu vào: cần tuân thủ qui trình xử lý ban đầu (diệt tạp, diệt khuẩn, giảm hàm lượng chất rắn lơ lửng bằng các hóa chất được phép sử dụng) nhằm hạn chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh đảm bảo chất lượng nước phù hợp nhất trước khi đưa vào ao nuôi, đặc biệt các khu vực nguồn nước tự nhiên có sự xuất hiện Coliform, E.Coli phải có giải pháp kiểm soát hiệu quả: định kỳ bổ sung chế phẩm sinh học (vi sinh, enzyme,…) và quản lý tốt chất lượng nguồn nước trong quá trình nuôi;
+ Ao đang cải tạo chuẩn bị nuôi: cần tuân thủ quy trình kỹ thuật trong cải tạo ao, bơm cấp nước và xử lý môi trường đảm bảo phù hợp các chỉ tiêu thủy, lý hóa, vi sinh,… trước khi thả giống. Đối với con giống cần lựa chọn những cơ sở đủ điều kiện, chất lượng con giống được xét nghiệm không mang mầm bệnh và đảm bảo các yêu cầu cảm quan theo quy định;
+ Để nâng độ kiềm tại các điểm thu mẫu thấp hơn giới hạn (< 60mg CaCO3/L) và ổn định độ pH trong ao nuôi, người nuôi tôm có thể sử dụng vôi (CaCO3, Ca(MgCO3)2,..);
+ Bổ sung men tiêu hóa và các chất giúp tăng cường sức đề kháng: Vitamin C, Beta-glucan.
– Đối với nuôi nghêu
+ Khuyến cáo người dân tuyệt đối không nên thả nghêu giống không rõ nguồn gốc;
+ Nên thả nuôi mật độ từ 180 – 200 con/m2; cỡ giống nuôi từ 400-600 con/kg; không thả giống vào thời điểm thời tiết không thuận lợi (từ tháng 1-3 âm lịch);
+ Đối với nghêu đạt cỡ thu hoạch thì khẩn trương thu hoạch tránh thiệt hại xảy ra;
+ Đối với nghêu chưa đạt cỡ thu hoạch thì chủ động san thưa không để mật độ nuôi quá dày;
+ Chú ý vệ sinh bãi nuôi nghêu sau khi thu hoạch (cào, xới, hoặc bơm rửa, sát trùng bãi nuôi…). Khai thông các vùng đọng nước để tránh hiện tượng đọng nước cục bộ, gây nhiệt độ tăng cao vào buổi trưa làm nghêu chết.
(Nguồn trích từ Chi cục Thủy sản TP.HCM)
Th.S Nguyễn Thị Gái Nhỏ (tổng hợp)






Năm nay : 224424
Tổng số lượt truy cập : 1241399
Lượt truy cập hôm nay : 2472
Đang truy cập : 13