KẾT QUẢ QUAN TRẮC, KHUYẾN CÁO NÔNG DÂN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (Tháng 4/2022)
07/04/20221. Chất lượng môi trường nước vùng nuôi tôm
a. Huyện Nhà Bè
– Chỉ tiêu lý hóa
+ Chỉ số độ mặn (5 – 15‰), NH4-N (0,02 – 0,24mg/l), DO (4,50 – 4,57mg/l), COD (3,28 – 5,00mg/l), độ trong, nhiệt độ nằm trong giới hạn cho phép.
+ Chỉ số pH tại khu vực Cầu Sóc Vàm và Bến Đò Kinh Lộ xã Hiệp Phước nằm trong giới hạn cho phép (7,17 – 7,22), riêng khu vực Rạch Tôm xã Nhơn Đức thấp hơn giới hạn cho phép (6,76).
+ Độ kiềm tại các khu vực đều thấp hơn giới hạn cho phép (36,0 – 51,5mg CaCO3/l);
+ Chỉ số TSS tại các khu vực đều vượt giới hạn cho phép (105 – 125mg/l).
– Chỉ tiêu vi sinh: Đa số các khu vực đều có sự hiện diện của Vibrio spp với mật độ thấp (0,01 – 0,035×103CFU/ml). Không có sự hiện diện của Vibrio phát sáng.
– Chỉ tiêu lý hóa
+ Chỉ số độ mặn (10 – 24‰), NH4-N (<0,01 – 0,07mg/l), DO (4,48 – 4,60mg/l), COD (2,20 – 4,80 mg/l), nhiệt độ, độ trong tại các khu vực trong giới hạn cho phép.
+ Chỉ số pH tại đa số các khu vực trong giới hạn cho phép (7,08 – 7,41), trừ khu vực Kinh Hốc Hỏa xã An thới Đông thấp hơn giới hạn cho phép (6,90).
+ Độ kiềm tại đa số các khu vực trong giới hạn cho phép (60,0 – 78,5mg CaCO3/l), trừ khu vực Bông Giếng xã Bình Khánh, Tắc Tây Đen xã Tam Thôn Hiệp và Cống T3 xã Lý Nhơn thấp hơn giới hạn cho phép (53,0 – 59,5mg CaCO3/l).
+ Chất rắn lơ lửng TSS tại các khu vực đều vượt giới hạn cho phép (90 – 120mg/l).
– Chỉ tiêu vi sinh: đa số các khu vực đều có sự hiện diện của Vibrio spp với mật độ thấp (<10 – 0,45×103 CFU/ml). Khu vực Kinh Bà Tổng xã An Thới Đông có sự hiện diện của Vibrio phát sáng (55CFU/ml).
c. Vùng nuôi nghêu huyện Cần Giờ
– Chỉ tiêu lý hóa
+ Độ mặn tại hầu hết khu vực nuôi nghêu dao động ở mức 29 – 32‰, riêng khu vực Đuôi Sam (4) vùng nuôi Lý Nhơn độ mặn ở mức 19‰.
+ Độ pH nằm trong giới hạn thích hợp (7,80 – 7,90).
+ Độ kiềm tại các khu vực trong khoảng (80,5 – 101,5mg CaCO3/l).
+ COD tại các khu vực nằm trong khoảng (1,20 – 4,00mg/l).
+ Chỉ số TSS vượt giới hạn cho phép (85 – 130mg/l).
– Chỉ tiêu vi sinh: đa số các khu vực có sự hiện diện của Vibrio spp với mật độ thấp (0,03 – 0,975×103CFU/ml); trừ khu vực Sân Quẹo (3), Vàm Cát Lái và Hòa Hiệp vùng nuôi khu vực Vịnh Đồng Hòa có sự hiện diện của Vibrio spp cao hơn giới hạn cho phép (1,365 – 1,59×103CFU/ml). Đa số các khu vực đều có sự hiện diện của Vibrio phát sáng (5 – 170 CFU/ml); riêng khu vực Sân Tư Trung (2) vùng nuôi khu vực 30/4 và vùng nuôi khu vực Thạnh An không có hiện diện Vibrio phát sáng.
d. Vùng nuôi thủy sản tại huyện Bình Chánh
– Chỉ tiêu lý hóa:
+ Các chỉ số pH (7,08 – 7,27), độ kiềm (70,0 – 113,5mg CaCO3/l), DO (4,35 – 4,46mg/l) đều nằm trong giới hạn cho phép.
+ Độ mặn tại các khu vực dao động trong khoảng (1 – 6‰).
+ Chỉ số NH4–N tại khu vực Cầu Ông Niệm xã Phong Phú nằm trong giới hạn cho phép (0,93mg/l), các khu vực còn lại đều vượt giới hạn cho phép (1,82 – 7,12mg/l).
+ Chỉ số COD thấp hơn giới hạn cho phép (7,62 – 9,88mg/l).
+ Chỉ số TSS vượt giới hạn cho phép (138 – 155mg/l).
– Chỉ tiêu vi sinh: khu vực Cầu Ấp Quán và Rạch Bà Tỵ xã Tân Nhựt, Cầu Cống Lớn xã Phong Phú, Ông Thìn xã Đa Phước có sự hiện diện của Aeromonas với mật độ thấp (0,015 – 0,44×103 CFU/ml); các khu vực có độ mặn ≥ 5‰ như Cầu Ông Niệm xã Phong Phú, Bún Xẻo xã Đa Phước có sự hiện diện của Vibrio spp với mật độ thấp (0,05 – 0,1×103 CFU/ml).
2. Khuyến cáo
a. Đối với nuôi tôm
– Ao đang nuôi: cần duy trì mực nước trên 1m, kiểm tra các thông số chất lượng nước, quản lý việc cho ăn và sức khỏe đàn tôm, đề phòng tôm bị sốc do môi trường thay đổi đột ngột. Lấy nước vào ao nuôi cần phải qua ao lắng xử lý theo đúng qui trình kỹ thuật, cần bổ sung vôi để nâng độ pH và độ kiềm lên mức phù hợp.
– Để nâng độ kiềm tại các điểm thu mẫu thấp hơn giới hạn (<60mg CaCO3/L) và ổn định độ pH trong ao nuôi, người nuôi tôm có thể sử dụng vôi (CaCO3, Ca(MgCO3)2,..).
– Giảm hàm lượng chất rắn lơ lửng, xử lý mầm bệnh, diệt khuẩn bằng cách sử dụng ao lắng, ao xử lý và chỉ sử dụng các hóa chất được phép sử dụng trong nuôi trồng thủy sản (BKC, Iodine,..) nhằm hạn chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh đảm bảo chất lượng nước phù hợp nhất trước khi đưa vào ao nuôi.
– Bổ sung men tiêu hóa và các chất giúp tăng cường sức đề kháng, hỗ trợ hệ miễn dịch của cá thể nuôi như: Vitamin C, Beta-glucan,… khi thời tiết thay đổi.
b. Đối với nuôi nghêu
– Khuyến cáo người dân tuyệt đối không nên thả nghêu giống không rõ nguồn gốc;
– Nên thả nuôi mật độ từ 180-200 con/m2; cỡ giống nuôi từ 400-600 con/kg; không thả giống vào thời điểm thời tiết không thuận lợi (từ tháng 1-3 âm lịch).
– Đối với nghêu đạt cỡ thu hoạch thì khẩn trương thu hoạch tránh thiệt hại xảy ra.
– Đối với nghêu chưa đạt cỡ thu hoạch thì chủ động san thưa không để mật độ nuôi quá dày.
– Khi xuất hiện nghêu chết, tấp vào bờ, nhanh chóng thu gom xác nghêu trên bãi để tránh lây lan sang các cá thể nghêu còn sống. Trong trường hợp nghêu chết bị vùi dưới bãi, có biện pháp thu gom hợp lý, tránh làm ảnh hưởng môi trường sống của nghêu.
Th.s Nguyễn Thị Gái Nhỏ( tổng hơp)







Năm nay : 224462
Tổng số lượt truy cập : 1241437
Lượt truy cập hôm nay : 2697
Đang truy cập : 10