Phát triển sản xuất hữu cơ – những khó khăn, thách thức và các giải pháp

    Sản xuất hữu cơ đã và đang trở thành xu hướng tất yếu của nông nghiệp thế giới. Ngành nông nghiệp Việt Nam cũng đã từng bước đẩy mạnh phát triển nông nghiệp hữu cơ và coi đây là hướng đi dài lâu, bền vững.

    Theo Liên Hiệp Quốc, Nông nghiệp hữu cơ là hệ thống canh tác và chăn nuôi tự nhiên, không sử dụng hóa chất làm phân bón và thuốc trừ sâu, giúp giảm thiểu ô nhiễm, bảo đảm sức khỏe cho người và vật nuôi. Theo Tổ chức Mạng lưới Nông nghiệp hữu cơ Quốc tế (IFOAM), 4 nguyên tắc sản xuất chung nông nghiệp hữu cơ đó là: Sức khỏe, sinh thái, công bằng và cẩn trọng. Trong đó: 1) Sức khỏe (của đất, cây trồng, gia súc, con người); 2) Sinh thái (hệ tự nhiên mô phỏng và bền vững; 3) Công bằng (bình đẳng, tôn trọng và công lý cho mọi sinh vật) và 4) Nguyên tắc cẩn trọng (vì các thế hệ tương lai).

    Nông nghiệp hữu cơ (NNHC) có một số đặc điểm, như: Cung cấp chất dinh dưỡng một cách không trực tiếp, thông qua quá trình phân hủy chất hữu cơ bởi vi sinh vật hoặc từ các khoáng chất, phù sa các sông suối,…; Tự huy động đạm thông qua quá trình cố định bởi các cây họ đậu hay tái sử dụng chất hữu cơ, phế phụ phẩm; Phòng trừ sâu, bệnh, cỏ dại chủ yếu thông qua các biện pháp đấu tranh sinh học, thuốc bảo vệ thực vật sinh học và các giống cây trồng chống chịu; Bảo tồn động vật hoang dã và môi trường sống tự nhiên của sinh vật. Như vậy có thể nói, để có sản phẩm hữu cơ đòi hỏi rất nhiều điều kiện, cả sản xuất và thị trường, vì vậy mà NNHC không có được mức tăng trưởng nhanh như sản xuất nông nghiệp thâm canh.

    Theo số liệu năm 2023, cả nước có 495.000 ha sản xuất NNHC, chiếm 4,3% tổng diện tích sản xuất nông nghiệp của Việt Nam, chiếm 0,69% diện tích sản xuất hữu cơ của thế giới. Việt Nam đứng thứ 3 trong khu vực ASEAN về diện tích đất nông nghiệp hữu cơ. Hơn 160 doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh nông nghiệp hữu cơ với kim ngạch xuất khẩu hằng năm đạt khoảng 335 triệu USD (tăng gần 15 lần so với năm 2010), đứng thứ 8 trong 10 nước có diện tích NNHC tại châu Á.

    Những khó khăn, thách thức để phát triển sản xuất hữu cơ

    Nông nghiệp Việt Nam hiện đang đứng trước 02 thách thức lớn (an toàn vệ sinh thực phẩm, biến đổi khí hậu) và các khó khăn như chưa có hệ thống các tiêu chuẩn quốc gia, khung pháp lý cho sản xuất, chứng nhận và giám sát chất lượng sản phẩm NNHC; Thị trường nội địa cho sản phẩm NNHC chưa phát triển mạnh và còn thiếu các chính sách cụ thể về định hướng chiến lược và kế hoạch hành động quốc gia để thúc đẩy sản xuất NNHC phát triển; Nhiều hộ nông dân chưa muốn chuyển đổi sang sản xuất NNHC do sức hấp dẫn về lợi nhuận chưa được chứng minh, thị trường không được cam kết. Thêm vào đó, quy trình sản xuất khắt khe, đủ để đáp ứng yêu cầu về chất lượng nên chi phí sản xuất cao. Năng suất không cao, công lao động nhiều nên giá thành sản phẩm từ NNHC thường cao gấp 2 – 4 lần bình thường. Ngoài ra, sản phẩm thường có hình thức không đẹp, không bắt mắt. Bên cạnh giá thành sản phẩm cao trong khi không có khả năng phân biệt thực phẩm hữu cơ một cách chắc chắn là nguyên nhân khiến nhiều người tiêu dùng không muốn chi tiền cho loại sản phẩm này.

    Giải pháp, chính sách hỗ trợ sản phẩm hữu cơ tại TP.Hồ Chí Minh

   Thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, ưu tiên khuyến khích phát triển nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn, chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP); Đẩy mạnh áp dụng công nghệ, quy trình sản xuất tiên tiến, giảm sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc vô cơ; khuyến khích sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hữu cơ.

    Nhằm góp phần vào định hướng chung về phát triển kinh tế xanh, phát triển nông nghiệp xanh, nông nghiệp sinh thái được cụ thể hóa bằng giải pháp thúc đẩy và phổ biến NNHC. Ngành nông nghiệp TP. Hồ Chí Minh đề ra mục tiêu năm 2025 xác định được vùng sản xuất NNHC trên một số đối tượng cây trồng, vật nuôi, thủy sản phù hợp với điều kiện của Thành phố; Hình thành 2 – 3 chuỗi giá trị trong sản xuất NNHC gắn với truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Để làm được điều đó, ngành nông nghiệp Thành phố cần tập trung thực hiện:

    Một là, xây dựng, bổ sung các chính sách khả thi để hỗ trợ NNHC phát triển; Tăng cường hơn nữa công tác quản lý nhà nước, tạo cơ chế chính sách khuyến khích sản xuất NNHC, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm không an toàn, sử dụng chất độc hại trên cơ sở tăng cường công tác chứng nhận, kiểm tra, thanh tra, giám sát việc sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản xuất các sản phẩm hữu cơ.

    Hai là, ban hành các văn bản quy định, hướng dẫn cho sản xuất hữu cơ với các sản phẩm có nhãn hàng hóa có thể truy xuất nguồn gốc. Thiết lập và tăng cường hiệu quả hệ thống công nhận và chứng nhận, giám sát cho sản phẩm hữu cơ.

    Ba là, đẩy mạnh quy hoạch đối với các xã dành diện tích đất cho sản xuất NNHC và vùng sản xuất lớn chuyên canh cho phát triển hữu cơ theo hướng hàng hóa.

    Bốn là, xây dựng chính sách hỗ trợ và khuyến khích cho các cơ sở sản xuất, chế biến phục vụ cho phát triển sản xuất hữu cơ. Giúp đỡ doanh nghiệp xây dựng thương hiệu, phát triển thị trường và quảng bá sản phẩm.

    Năm là, tăng cường công tác đào tạo, tập huấn, tuyên truyền vận động, nâng cao nhận thức cho mọi người về vai trò của sản xuất nông nghiệp hữu cơ, từ đó thay đổi hành vi, có thói quen áp dụng sản xuất hữu cơ, sử dụng sản phẩm sạch; Khảo sát, đánh giá điều kiện sản xuất nông nghiệp hữu cơ, xác định các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ phù hợp.

    Sáu là, đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ trong sản xuất NNHC. Vận động các doanh nghiệp tập trung tăng diện tích sản xuất NNHC, đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư sản xuất NNHC gắn với mục tiêu bảo vệ môi trường, phát triển đa dạng sinh học, góp phần phát triển du lịch, dịch vụ.

Trúc Minh (tổng hợp)