Kết quả quan trắc môi trường nước nuôi trồng thủy sản nước lợ (Ngày thu mẫu 13/7/2022)

1. Kết quả chất lượng nước vùng nuôi tôm

a) Huyện Nhà Bè

– Chỉ tiêu lý hóa

+ Chỉ số NH4-N (<0,01mg/l), DO (4,40 – 4,56 mg/l), COD (2,32 – 9,04 mg/l), BOD5 (9,70 – 19,55 mg/l), Cd (không phát hiện), Pb (KPH – 0,0030), photphat tổng và sunfua (không phát hiện), độ trong, nhiệt độ nằm trong giới hạn cho phép;

+ Chỉ số pH (6,50 – 6,80), độ kiềm (31,0 – 39,0 mg CaCO3/l) thấp hơn giới hạn cho phép;

+ Độ mặn tại khu vực Bến Đò Kinh Lộ nằm trong giới hạn cho phép (5‰), trừ khu vực Cầu Sóc Vàm và Rạch Tôm thấp hơn giới hạn cho phép (1 – 3‰);

+ Chỉ số TSS tại các khu vực đều vượt giới hạn cho phép (112 – 122 mg/l).

– Chỉ tiêu vi sinh: khu vực Bến Đò Kinh Lộ có sự hiện diện của Vibrio spp với mật độ thấp (0,015 x 103CFU/ml); khu vực Cầu Sóc Vàm và Rạch Tôm có sự hiện diện của Aeromonas với mật độ thấp (0,03 x 103CFU/ml);

+ Khu vực Cầu Sóc Vàm có sự hiện diện của Coliform với mật độ thấp (2,4 x 102MPN/100ml); các khu vưc còn lại có sự hiện diện của Coliform với mật độ cao (1,1×104MPN/100ml);

+ Đa số các khu vực đều có sự hiện diện của E.Coli với mật độ cao (2,4 x 102 – 4,6 x 103MPN/100 ml).

 b) Huyện Cần Giờ

– Chỉ tiêu lý hóa

+ Chỉ số NH4-N (< 0,01 mg/l), DO (4,49 – 4,64 mg/l), COD (2,40 – 6,56 mg/l), Cd và Pb (không phát hiện), photphat tổng và sunfua (không phát hiện), nhiệt độ, độ trong tại các khu vực nằm trong giới hạn cho phép;

+ Chỉ số pH tại đa số các khu vực đều nằm trong giới hạn cho phép (7,00 – 7,16); trừ khu vực Bông Giếng, Kinh Hốc Hỏa, Tắc Tây Đen và Rạch Đước (TTH) thấp hơn giới hạn cho phép (6,88 – 6,97);

+ Độ mặn tại đa số các khu vực nằm trong giới hạn cho phép (5 – 16‰). Trừ khu vực Bông Giếng, Kinh Hốc Hỏa và Tắc Tây Đen thấp hơn giới hạn cho phép (2 – 3‰);

+ Độ kiềm tại khu vực Rạch Gốc Tre và Rạch Ông Thành nằm trong giới hạn cho phép (67,0 – 73,0 mg CaCO3/l), các khu vực còn lại thấp hơn giới hạn cho phép (31,5 – 51,0 mg CaCO3/l);

+ Chỉ số BOD5 tại đa số các khu vực đều nằm trong giới hạn cho phép (9,35 – 22,95 mg/l); trừ khu vực Rạch Đước (BK), Doi Tiều, Rạch Gốc Tre và Rạch Ông Thành cao hơn giới hạn cho phép (26,10 – 60,40 mg/l);

+ Chất rắn lơ lửng TSS tại các khu vực đều vượt giới hạn cho phép (109 – 141mg/l).

– Chỉ tiêu vi sinh: khu vực Rạch Đước (BK), Kinh Bà Tổng, Rạch Đước (TTH), Doi Tiều, Rạch Gốc Tre, Cống T3 và Rạch Ông Thành có sự hiện diện của Vibrio spp với mật độ thấp (< 10 – 0,125×103CFU/ml). Khu vực Bông Giếng, Kinh Hốc Hỏa và Tắc Tây Đen có độ mặn (< 5‰) có sự hiện diện của Aeromonas với mật độ thấp (0,01 – 0,32 x 103CFU/ml); không có sự hiện diện của Vibrio phát sáng (CFU/ml);

+ Đa số các khu vực có sự hiện diện của Coliform với mật độ thấp (2,4×102 – 4,6×103MPN/100ml), trừ khu vực Tắc Tây Đen có sự hiện diện của Coliform với mật độ cao (1,1 x 104 MPN/100ml);

+ Khu vực Doi Tiều và Rạch Gốc Tre có sự hiện diện của E.Coli với mật độ thấp (9,3×101MPN/100ml), các khu vực còn lại đều có sự hiện diện của E.Coli với mật độ cao (2,4 x 102 – 4,6 x 103MPN/100 ml).

2. Chất lượng môi trường nước nuôi nhuyễn thể huyện Cần Giờ

– Chỉ tiêu lý hóa

+ Độ pH nằm trong giới hạn thích hợp (7,08 – 7,91);

+ Độ mặn tại các khu vực dao động trong khoảng (25 – 30‰), riêng khu vực Đuôi Sam (4) có độ mặn 15‰;

+ Độ kiềm tại các khu vực trong khoảng (66,5 – 107,0 mg CaCO3/l); NH4-N (< 0,01 mg/l);

+ COD tại các khu vực nằm trong khoảng (2,80 – 13,76 mg/l);

+ BOD5 tại đa số các khu vực dao động trong khoảng (11,40 – 28,20 mg/l); trừ khu vực Sân Xim (A), Sân Tư Trung dao động trong khoảng (101,0 – 104,0 mg/l);

+ Chỉ số TSS vượt giới hạn cho phép (112 – 145mg/l);

+ Cd, Pb, sulfua và photphat tổng không khát hiện.

– Chỉ tiêu vi sinh: khu vực Cofidex (A), Hòn N.P Nam, Đuôi Sam, Đầu Kinh 50 Thạnh An và Ngang Trạm BP TA có sự hiện diện của Vibrio spp với mật độ thấp (0,075 – 0,835 x 103CFU/ml). Các khu vực còn lại đều có sự hiện diện của Vibrio spp với mật độ cao (1,12 – 15,80 x 103CFU/ml);

+ Đa số các khu vực có sự hiện diện của Vibrio phát sáng (20 – 80CFU/ml); trừ khu vực Đuôi Sam, Đầu Kinh 50, Ngang Trạm BP TA và Đầu Vàm TA không có sự hiện diện của Vibrio phát sáng;

+ Đa số các khu vực có sự hiện diện của Coliform với mật độ thấp (2,4 – 4,6 x 102MPN/100ml); trừ khu vực Sân Quẹo, Vàm Long Hòa, Hòa Hiệp, Đuôi Sam và Đầu Vàm TA có sự hiện diện của Coliform với mật độ cao (1,1 – 4,6×103MPN/100ml);

+ Khu vực Sân Tư Trung và Ngang Trạm BP TA có sự hiện diện của E. Coli với mật độ thấp (9,3 x 101MPN/100ml), các khu vực còn lại có sự hiện diện của E. Coli với mật độ cao (2,4 x 102 – 2,4 x 103MPN/100ml).

3. Khuyến cáo

a) Đối với nuôi tôm

– Hiện nay thời tiết vào mùa mưa, nhiệt độ thường biến động lớn khi có mưa dễ gây sốc nhiệt, dễ phát sinh bệnh. Để giảm tác hại cho tôm nuôi, cơ sở nuôi cần đảm bảo mực nước trong ao cao nhằm ổn định nhiệt độ, sử dụng chế phẩm sinh học xử lý ao nuôi, giúp phân hủy các chất lắng tụ làm sạch đáy và nước ao nuôi;

– Đối với nguồn nước cấp đầu vào: cần tuân thủ qui trình xử lý ban đầu (diệt tạp, diệt khuẩn, giảm hàm lượng chất rắn lơ lửng bằng các hóa chất được phép sử dụng) nhằm hạn chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh đảm bảo chất lượng nước phù hợp nhất trước khi đưa vào ao nuôi, đặc biệt các khu vực nguồn nước tự nhiên có sự xuất hiện Coliform, E.Coli phải có giải pháp kiểm soát hiệu quả: định kỳ bổ sung chế phẩm sinh học (vi sinh, enzyme,…) và quản lý tốt chất lượng nguồn nước trong quá trình nuôi;

– Để nâng độ kiềm tại các điểm thu mẫu thấp hơn giới hạn (<60mg CaCO3/L) và ổn định độ pH trong ao nuôi, người nuôi tôm có thể sử dụng vôi (CaCO3, Ca(MgCO3)2,…);

– Bổ sung men tiêu hóa và các chất giúp tăng cường sức đề kháng, hỗ trợ hệ miễn dịch cho thủy sản nuôi như: Vitamin C, Beta-glucan,… khi thời tiết thay đổi;

– Để hạn chế sự phát sinh và lây nhiễm mầm bệnh, cần có biện pháp ngăn chặn sự xâm nhập của các ký chủ trung gian mang mầm bệnh (cua, còng, …); khoanh vùng cách ly tuyệt đối với khu vực có tôm nghi nhiễm bệnh và có biện pháp xử lý tránh lây lan dịch bệnh ra xung quanh. Chú ý không sử dụng các sản phẩm có chứa hoạt chất là gốc thuốc trừ sâu như Deltamethrin, Cypermethrin,… để diệt giáp xác.

b) Đối với nuôi nghêu

– Khuyến cáo người dân tuyệt đối không nên thả nghêu giống không rõ nguồn gốc.

– Nên thả nuôi mật độ từ 180-200 con/m2; cỡ giống nuôi từ 400 – 600 con/kg; không thả giống vào thời điểm thời tiết không thuận lợi (từ tháng 1-3 âm lịch).

– Chú ý vệ sinh bãi nuôi nghêu sau khi thu hoạch (cào, xới, hoặc bơm rửa, sát trùng bãi nuôi…). Khai thông các vùng đọng nước để tránh hiện tượng đọng nước cục bộ, gây nhiệt độ tăng cao vào buổi trưa làm nghêu chết.

(Nguồn tổng hợp từ Chi Cục Thủy sản).

    Th.S Nguyễn Thị Gái Nhỏ          

(Phòng kỹ thuật – Trung tâm Khuyến nông)