Kết quả quan trắc, cảnh báo môi trường nước nuôi trồng thủy sản trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh (ngày thu mẫu 04 – 05/11/2025)  

    Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư Thành phố Hồ Chí Minh vừa thông báo kết quả quan trắc, cảnh báo môi trường nước nuôi trồng thủy sản được ghi nhận ngày 04 – 05/11/2025.

    Người nuôi cần theo dõi các chỉ số quan trắc, cảnh báo môi trường để có biện pháp xử lý ao nuôi hợp lý.

  1. Vùng nuôi tôm

    * Chất lượng nước

    Xã Hiệp Phước

    – Chỉ tiêu hóa lý: 

+ Chỉ số độ mặn, DO, Ca, Mg, pH, độ kiềm tại các khu vực đều thấp hơn giới hạn cho phép;

+ Chỉ số NO3, PO43-, NH4-N, NO2, H2S tại các khu vực đều nằm trong giới hạn cho phép; 

+ Chỉ số TTS tại các khu vực nằm trong giới hạn cho phép 81 – 87 mg/l), riêng khu vực Bến Đò cao hơn giới hạn cho phép (271 mg/l);

+ Chỉ số COD tại các khu vực cao hơn giới hạn cho phép (26 – 72 mg/l).

    – Chỉ tiêu vi sinh, kim loại năng, Dieldrin: không phát hiện.

    Xã Bình Khánh, xã An Thới Đông 

    – Chỉ tiêu hóa lý:

+ Chỉ số độ mặn tại các khu vực đều thấp hơn giới hạn cho phép (02 – 06 %0), riêng khu vực Rạch Ông Thành nằm trong giới hạn cho phép (13 ‰);

+ Chỉ số DO tại các khu vực đều thấp hơn giới hạn cho phép (4 – 4.5 mg/l); riêng khu vực Kinh Bà Tổng, Doi Tiều, Rạch Gốc Tre nằm trong giới hạn cho phép (05 mg/l);

+ Chỉ số NO3-, NH4-N, NO2, H2S tại các khu vực đều nằm trong giới hạn cho phép; 

+ Chỉ số PO43- tại các khu vực nằm trong giới hạn cho phép (KPH – 0.11 mg/l), riêng khu vực Bông Giếng cao hơn giới hạn cho phép (0.23mg/l).

+ Chỉ số Ca, Mg, pH, độ kiềm tại các khu vực đều thấp hơn giới hạn cho phép;

+ Chỉ số TSS tại một số khu vực đều nằm trong giới hạn cho phép (30 – 100 mg/l), riêng khu vực Rạch Đước (BK), Tắc Tây Đen, Kinh Bà Tổng cao hơn giới hạn cho phép (134 – 362 mg/l);

+ Chỉ số COD tại các khu vực đều cao hơn giới hạn cho phép (24 – 86 mg/l); riêng khu vực Bông Giếng, Rạch Đước, Rạch Ông Thành nằm trong giới hạn cho phép (16 mg/l).

    – Chỉ tiêu vi sinh, kim loại năng, Dieldrin: không phát hiện.

    * Khuyến cáo 

    – Đối với nguồn nước cấp: Cần tuân thủ quy trình xử lý ban đầu (diệt tạp, diệt khuẩn, giảm hàm lượng chất rắn lơ lửng bằng các hóa chất được phép sử dụng) nhằm hạn chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh đảm bảo chất lượng nước phù hợp nhất trước khi đưa vào ao nuôi. Định kỳ bổ sung chế phẩm sinh học (vi sinh, enzyme,…) để cải thiện và quản lý tốt chất lượng nguồn nước và hạn chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh.

    – Đối với các ao đang cải tạo chuẩn bị nuôi: Cần tuân thủ quy trình kỹ thuật, xử lý môi trường đảm bảo phù hợp các chỉ tiêu thủy, lý hóa, vi sinh,… trước khi thả giống. Lựa chọn con giống từ các cơ sở uy tín, được xét nghiệm không mang mầm bệnh và đáp ứng các yêu cầu cảm quan. 

    – Đối với ao đang nuôi: Duy trì mực nước ao trên 1m, thường xuyên kiểm tra các thông số môi trường (pH, độ kiềm, TSS, COD) để điều chỉnh kịp thời, quản lý việc cho ăn và sức khỏe đàn tôm, chú ý đề phòng tôm bị sốc do môi trường thay đổi đột ngột. Đồng thời kiểm tra bờ ao tránh sạt lở, rò rỉ để ngăn phèn từ bên ngoài vào bên trong ao nuôi. Trong các trường hợp lấy nước, cần phải qua ao lắng xử lý theo đúng quy trình kỹ thuật, lưu ý cần bổ sung vôi để nâng độ kiềm lên mức phù hợp. 

    – Đối với ao nuôi quảng canh: Thường xuyên theo dõi chất lượng nguồn nước từ thông báo kết quả quan trắc của cơ quan chức năng để có biện pháp xử lý phù hợp, luôn tuân thủ các bước thực hiện theo quy trình, theo khuyến cáo của cơ quan chuyên môn và hạn chế cấp nước vào ao nuôi trong thời kỳ con nước có chất lượng nước không đảm bảo.

    – Để nâng độ kiềm tại các điểm thu mẫu thấp hơn giới hạn (<80mg CaCO3/1) và ổn định độ pH trong ao nuôi, người nuôi tôm có thể sử dụng vôi (CaCO3, Ca(MgCO3)2,..). 

    – Bổ sung men tiêu hóa và các chất giúp tăng cường sức đề kháng, hỗ trợ hệ miễn dịch cho thủy sản nuôi như: Vitamin C, Beta-glucan,… khi thời tiết thay đổi. 

    – Để hạn chế sự phát sinh và lây nhiễm mầm bệnh, cần có biện pháp ngăn chặn sự xâm nhập của các ký chủ trung gian mang mầm bệnh (cua, còng,…) như rào chắn kỹ quanh khu vực nuôi và ngăn lưới giữa các ao nuôi; sử dụng dụng cụ riêng biệt cho từng ao và hạn chế đi lại giữa các ao; khoanh vùng cách ly tuyệt đối với khu vực có tôm nghi nhiễm bệnh và có biện pháp xử lý tránh lây lan dịch bệnh ra xung quanh. Chú ý không sử dụng các sản phẩm có chứa hoạt chất là gốc thuốc trừ sâu như Deltamethrin, Cypermethrin… để diệt giáp xác. 

    – Vệ sinh môi trường ao: Định kỳ vệ sinh đáy ao, quản lý chặt chẽ chất lượng nước để giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm. Tăng cường vệ sinh, khử trùng ao nuôi, dụng cụ nuôi và môi trường xung quanh.

  1. Vùng nuôi nhuyễn thể xã An Thới Đông, xã Cần Giờ, xã Thạnh An 

    * Chất lượng nước 

    – Chỉ tiêu hóa lý: 

+ Chỉ số độ mặn tại các khu vực đều nằm trong giới hạn cho phép (23 – 25 %0), riêng khu vực Vàm Cát Lái, Đuôi Sam thấp hơn giới hạn cho phép (11 – 14 ‰);

+ Chỉ số NO3-; pH, PO43-, NH4-N; H2S tại các khu vực đều nằm trong giới hạn cho phép;

+ Chỉ số Mg tại các tại các khu vực đều nằm trong giới hạn cho phép (450 – 612 mgCaCO3/l), riêng khu vực Vàm Đồng Hòa, Đuôi Sam thấp hơn giới hạn cho phép (360 mg/CaCO3/l);

+ Chỉ số DO, độ kiềm tại các khu vực đều thấp hơn giới hạn cho phép.

+ Chỉ số COD tại các khu vực đều cao hơn giới hạn cho phép;

+ Chỉ số Ca tại các khu vực đều nằm trong giới hạn cho phép (180 – 270 mg/l), riêng khu vực Vàm Cát Lái, Đuôi Sam thấp hơn giới hạn cho phép 3.5 – 4.0mg/l);

+ Chỉ số Mg tại các khu vực cao hơn giới hạn cho phép (522 – 630mg CaCO3/l), riêng khu vực Hòa Hiệp – Long Hòa, Vàm Cát Lái, Đuôi Sam nằm trong giới hạn cho phép (288 – 432 mg CaCO3/l);

+ Chỉ số TSS tại một số khu vực cao hơn giới hạn cho phép (52 – 90 mg/l), riêng khu vực Vàm Đồng Hòa, Vàm Cát Lái nằm trong giới hạn cho phép (23 – 24 mg/l);

+ Chỉ số NO2– tại các khu vực Hòa Hiệp – Long Hòa, Đuôi Sam nằm trong giới hạn cho phép (0.017 – 0.049 mg/l);

    – Chỉ tiêu vi sinh, kim loại năng, Dieldrin: không phát hiện

    * Khuyến cáo 

    – Vệ sinh khu vực nuôi: vệ sinh bãi nuôi, dây, lồng bè nuôi; đảm bảo lưu thông nước, và cung cấp đủ oxy cho nhuyễn thể; 

    – Thu hoạch nhuyễn thể khi đủ kích cỡ thu hoạch; tuyệt đối không thả giống khi điều kiện môi trường không cho phép, khu vực biển nuôi có nhiều rong, rêu và vật chất gây hại cho đối tượng nuôi; không nên thả nhuyễn thể giống không rõ nguồn gốc. 

    – Duy trì mật độ nuôi phù hợp, giãn khoảng cách giữa các dây hàu để tăng lưu thông nước, hạn chế rong rêu bám làm giảm ánh sáng, tăng oxy hòa tan trong nước; di chuyển dây nuôi hàu ra vùng nước lưu thông tốt hơn đối với những cơ sở nuôi có thể di dời được; 

    – Thường xuyên vệ sinh, san phẳng mặt bãi nuôi, khai thông các vùng nước đọng, gia cố vệ sinh lưới vây tạo sự thông thoáng cho nước triều lên xuống; thu gom nhuyễn thể chết trên bãi và xử lý đúng quy định tránh làm ô nhiễm môi trường; 

    – Theo dõi chặt chẽ biến động của thời tiết và môi trường nước, khi phát hiện nhuyễn thể nuôi có dấu hiệu bất thường hoặc bị chết rải rác cần có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời. 

  1. Vùng nuôi thủy sản 

    * Vùng nuôi nước ngọt xã Tân Nhựt, xã Bình Lợi 

    – Chỉ tiêu hóa lý: 

 + Chỉ số độ mặn, pH, TSS, NO­2, H2S, độ kiềm tại các khu vực đều nằm trong giới hạn cho phép;

+ Chỉ số DO tại các khu vực đều thấp hơn giới hạn cho phép (3.5 –  4.0 mg/l);

+ Chỉ số PO43- tại các khu vực đều cao hơn giới hạn cho phép (0.23 – 0.29 mg/l) riêng khu vực Độc Lập nằm trong giới hạn cho phép (0.15 mg/l);  

+ Chỉ số NH4N tại các khu vực đều cao hơn giới hạn cho phép (1.36 – 2.18 mg/l);

+ Chỉ số COD tại các khu vực đều cao hơn giới hạn cho phép (22 – 30 mg/l).

    – Chỉ tiêu vi sinh, kim loại năng, Dieldrin: không phát hiện

    * Vùng nuôi nước lợ xã Bình Hưng, xã Hưng Long 

    Chỉ tiêu hóa lý: 

+ Chỉ số độ mặn, Ca, Mg, pH tại các khu vực đều thấp hơn giới hạn cho phép; 

+  Chỉ số NO3, NO2 NH4-N, H2S tại các khu vực đều nằm trong giới hạn cho phép;

+ Chỉ số DO tại các khu vực đều thấp hơn giới hạn cho phép (4.0 – 4.5 mg/l); riêng khu vực Ông Niệm nằm trong giới hạn cho phép (5.0 mg/l);

+ Chỉ số PO43- tại các khu vực đều cao hơn giới hạn cho phép (0.27 – 0.31 mg/l);

+ Chỉ số TSS tại các khu vực đều cao hơn giới hạn cho phép (121 – 196 mg/l), riêng khu vực Bún Xeo nằm trong giới hạn cho phép (96 mg/l);

+ Chỉ số độ kiềm tại các khu vực thấp hơn giới hạn cho phép (76.3 – 78.3 mg CaCO3/l), riêng khu vực Cống Lớn nằm trong giới hạn cho phép (86.3 mg CaCO3/l);

+ Chỉ số COD tại các khu vực cao hơn giới hạn cho phép (36 – 58 mg/l);

    – Chỉ tiêu vi sinh, kim loại năng, Dieldrin: không phát hiện

    * Khuyến cáo 

    – Thường xuyên theo dõi các thông báo về quan trắc của các cơ quan chuyên môn, khi cấp nước cần theo dõi và kiểm tra các chỉ tiêu môi trường, có biện pháp xử lý phù hợp nhằm hạn chế rủi ro. 

    – Nồng độ NH4-N, NO2 tại một số khu vực đều vượt ngưỡng giới hạn cho phép, các hộ nuôi thủy sản hạn chế lấy nước. Trong trường hợp lấy nước phải sử dụng ao lắng và tuân thủ quy trình xử lý, đặc biệt xử lý giảm thấp nồng độ NH4-N, NO2 xuống ngưỡng cho phép: Tăng cường lượng oxy hòa tan, sử dụng chế phẩm sinh học cho phép (vi sinh, enzyme, yucca,…), điều chỉnh lượng thức ăn và thay nước (nếu có thể); Cần kiểm tra các thông số môi trường phù hợp (DO, pH,…) trước khi thả giống nuôi. 

    – Bổ sung thêm các Vitamin, khoáng chất trong khẩu phần ăn để tăng sức đề kháng. Tăng cường sử dụng chế phẩm vi sinh nhằm cải thiện chất lượng nước, góp phần hạn chế việc thay nước thường xuyên. 

    – Vệ sinh trang trại, lao động trong trại nuôi cần hạn chế đi lại giữa các trại, rào lưới khu vực ao nuôi nhằm hạn chế sự xâm nhập của các ký chủ trung gian mang mầm bệnh (như cua, còng, tép)… 

 (Đính kèm các Bảng phụ lục kết quả quan trắc môi trường: Phu luc I; Phu luc II; Phu luc III; Phu luc IV; Phu luc V.)

V.T (tổng hợp theo Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư TP.HCM)