Kết quả quan trắc, cảnh báo môi trường nước nuôi trồng thủy sản nước lợ (Ngày thu mẫu 25/4/2022)

1. KẾT QUẢ PHÂN TÍCH

Kiểm tra môi trường nước nuôi

Chất lượng nước nuôi thủy sản ước lợ:

a) Huyện Nhà Bè

            – Chỉ tiêu lý hóa

         + Chỉ số pH (7,23 – 7,39),DO (4,43 – 4,56 mg/l), COD (3,60 – 4,40 mg/l), BOD5 (17,95 – 20,81 mg/l), Pb, Cd và sunfua (không phát hiện), độ trong, nhiệt độ nằm trong giới hạn cho phép;

         + Tại khu vực Cầu Sóc Vàm và  Bến Đò Kinh Lộ xã Hiệp Phước có độ mặn (8 – 10‰),  NH4-N ( < 0,01mg/l)và photphat tổng nằm trong  giới hạn cho phép; trừ khu vực Rạch Tôm xã Nhơn Đức có độ mặn (4‰) thấp hơn giới hạn cho phép, NH4-N (0,32 mg/l) và photphat tổng (0,26 mg/l) cao hơn giới hạn cho phép;

         + Độ kiềm tại các khu vực đều thấp hơn giới hạn cho phép (37,5 – 58,0 mg CaCO3/l); 

         + Chỉ số TSS tại các khu vực đều vượt giới hạn cho phép (92 – 135 mg/l).

       – Chỉ tiêu vi sinh: Các khu vực không có sự hiện diện của Vibrio phát sáng; khu vực Cầu Sóc Vàm và Bến Đò Kinh Lộ xã Hiệp Phước có sự hiện diện của Vibrio spp nằm trong giới hạn cho phép, khu vực Rạch Tôm xã Nhơn Đức có sự hiện diện của Aeromonas. Đa số các khu vực có sự hiện diện của Coliform (trong giới hạn cho phép).

        + Khu vực Cầu Sóc Vàm xã Hiệp Phước có sự hiện diện của E.Coli (9,3 x 101 MNP/100 ml) trong giới hạn cho phép. Trừ khu vực Bến Đò Kinh Lộ xã Hiệp phước và Rạch Tôm xã Nhơn Đức có sự hiện diện của E.Coli (cao hơn giới hạn cho phép).

b) Huyện Cần Giờ

        – Chỉ tiêu lý hóa

       + Chỉ số độ mặn (5 – 17‰), NH4-N (< 0,01 mg/l), DO (4,45 – 4,56 mg/l), COD (3,12 – 7,04 mg/l), BOD5 (9,79 – 24,48 mg/l), Pb (KPH – 0,0058 mg/l), Cd và sunfua (không phát hiện), nhiệt độ, độ trong tại các khu vực nằm trong giới hạn cho phép;

       + Chỉ số pH tại đa số các khu vực đều nằm trong giới hạn cho phép (6,94 – 7,65);

     + Độ kiềm tại khu vực Doi Tiều, Rạch Gốc Tre và Cống T3 xã Lý Nhơn nằm trong giới hạn cho phép (64,5 – 87,0 mg CaCO3/l), các khu vực còn lại đều thấp hơn giới hạn cho phép (38,5 – 58,5 mg CaCO3/l);

      + Chất rắn lơ lửng TSS tại các khu vực đều vượt giới hạn cho phép (112 – 180mg/l);

    + Đa số các khu vực có chỉ số phosphat tổng không phát hiện; trừ khu vực Bông Giếng xã Bình Khánh, Kinh Hốc Hỏa xã An Thới Đông, Tắc Tây Đen xã Tam Thôn Hiệp và Cống T3 xã Lý Nhơn cao hơn giới hạn cho phép (0,23 – 0,41 mg/l).

     – Chỉ tiêu vi sinh: đa số các khu vực đều có sự hiện diện của Vibrio spp; khu vực Rạch Gốc Tre xã Lý Nhơn có sự hiện diện của Vibrio phát sáng.

     + Đa số các khu vực có sự hiện diện của Coliform với mật độ thấp; trừ khu vực Bông Giếng và Rạch Đước xã Bình Khánh, Rạch Gốc Tre xã Lý Nhơn có sự hiện diện của Coliform với mật độ;

    + Khu vực Tắc Tây Đen xã Tam Thôn Hiệp và Cống T3 xã Lý Nhơn có sự hiện diện của E.Coli với mật độ các khu vực còn lại đều cao hơn giới hạn cho phép.

2. Khuyến cáo

      – Hiện nay thời tiết bắt đầu giao mùa, nhiệt độ thường biến động lớn khi có mưa dễ gây sốc nhiệt, dễ phát sinh bệnh. Cơ sở nuôi cần đảm bảo mực nước trong ao cao nhằm ổn định nhiệt độ, sử dụng chế phẩm sinh học xử lý ao nuôi, giúp phân hủy các chất lắng tụ làm sạch đáy và nước ao nuôi;

     – Đối với nguồn nước cấp đầu vào: Cần tuân thủ quy trình xử lý ban đầu (diệt tạp, diệt khuẩn, giảm hàm lượng chất rắn lơ lửng bằng các hóa chất được phép sử dụng) nhằm hạn chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh đảm bảo chất lượng nước phù hợp nhất trước khi đưa vào ao nuôi, đặc biệt các khu vực nguồn nước tự nhiên có sự xuất hiện Coliform, E.Coli phải có giải pháp kiểm soát hiệu quả: định kỳ bổ sung chế phẩm sinh học (vi sinh, enzyme,…) và quản lý tốt chất lượng nguồn nước trong quá trình nuôi;

     – Đối với ao đang nuôi: cần duy trì mực nước trên 1m và thường xuyên kiểm tra các thông số chất lượng nước, quản lý việc cho ăn và sức khỏe đàn tôm, chú ý đề phòng tôm bị sốc do môi trường thay đổi đột ngột. Đồng thời kiểm tra bờ ao tránh sạt lở, rò rỉ để ngăn phèn từ bên ngoài vào bên trong ao nuôi. Trong các trường hợp lấy nước, cần phải qua ao lắng xử lý theo đúng qui trình kỹ thuật, lưu ý cần bổ sung vôi để nâng độ kiềm lên mức phù hợp;

     – Để nâng độ kiềm tại các điểm thu mẫu thấp hơn giới hạn (< 60 mg CaCO3/L) và ổn định độ pH trong ao nuôi, người nuôi tôm có thể sử dụng vôi (CaCO3, Ca (MgCO3)2,..); Bổ sung men tiêu hóa và các chất giúp tăng cường sức đề kháng, hỗ trợ hệ miễn dịch cho thủy sản nuôi như: Vitamin C, Beta-glucan,… khi thời tiết thay đổi;

      – Đối với các ao đang cải tạo chuẩn bị nuôi: cần tuân thủ quy trình kỹ thuật trong cải tạo ao, bơm cấp nước và xử lý môi trường đảm bảo phù hợp các chỉ tiêu thủy, lý hóa, vi sinh,… trước khi thả giống. Đối với con giống cần lựa chọn những cơ sở đủ điều kiện, chất lượng con giống được xét nghiệm không mang mầm bệnh và đảm bảo các yêu cầu cảm quan theo quy định;

       Sử dụng dụng cụ riêng biệt cho từng ao và hạn chế đi lại giữa các ao; khoanh vùng cách ly tuyệt đối với khu vực có tôm nghi nhiễm bệnh và có biện pháp xử lý tránh lây lan dịch bệnh ra xung quanh. Chú ý không sử dụng các sản phẩm có chứa hoạt chất là gốc thuốc trừ sâu như Deltamethrin, Cypermethrin,… để diệt giáp xác;

3. Vùng nuôi nhuyễn thể huyện Cần Giờ

a) Chất lượng môi trường nước

        – Chỉ tiêu lý hóa

       + Độ pH nằm trong giới hạn thích hợp (7,82 – 8,11);

       + Độ mặn tại hầu hết khu vực nuôi nghêu dao động ở mức 25 – 28‰;

      + Độ kiềm tại các khu vực trong khoảng (92,5 – 98,0mg CaCO3/l); NH4-N (< 0,01 mg/l);

      + COD tại các khu vực nằm trong khoảng (2,48 – 4,24 mg/l);

      + BOD5 tại hầu hết các khu vực dao động trong khoảng (9,79 – 24,48 mg/l); riệng khu vực Sân Xim (1) có chỉ số BOD5 (29,38 mg/l);

     + Chỉ số TSS vượt giới hạn cho phép (60 – 98 mg/l);

     + Cd, sulfua và photphat tổng không khát hiện;

     + Pb trong khoảng (KPH – 0,0037 mg/l).

      – Chỉ tiêu vi sinh: Khu vực Cofidex (A) có sự hiện diện của Vibrio spp với mật độ thấp, các khu vực còn lại đều cao hơn giới hạn cho phép. Đa số các khu vực đều có sự hiện diện của Vibrio phát sáng. Khu vực Sân Xim (1) có sự hiện diện của E. Coli với mật độ, các khu vực còn lại đều cao hơn giới hạn cho phép.

b) Khuyến cáo

       – Khuyến cáo người dân tuyệt đối không nên thả nghêu giống không rõ nguồn gốc; nên thả nuôi mật độ từ 180 – 200 con/m2; cỡ giống nuôi từ 400 – 600 con/kg; không thả giống vào thời điểm thời tiết không thuận lợi (từ tháng 1-3 âm lịch);

       – Đối với nghêu chưa đạt cỡ thu hoạch thì chủ động san thưa không để mật độ nuôi quá dày;

      – Cần vệ sinh bãi nuôi nghêu sau khi thu hoạch (cào, xới, hoặc bơm rửa, sát trùng bãi nuôi…). Khai thông các vùng đọng nước để tránh hiện tượng đọng nước cục bộ.)

                                                                     Th.s Nguyễn Thị Gái Nhỏ

 (tổng hợp – Nguồn từ Chi cục Thủy sản TP.HCM)