Kết quả quan trắc, cảnh báo môi trường nước lợ nuôi trồng thủy sản (Ngày thu mẫu 12/8/2022)

1. Chất lượng nước vùng nuôi tôm

a) Huyện Nhà Bè

– Chỉ tiêu lý hóa

+ Chỉ số NH4-N (< 0,01mg/l), DO (4,44 – 4,53 mg/l), COD (3,28 – 3,44 mg/l), Cd (không phát hiện), Pb (0,0017 – 0,0035), photphat tổng và sunfua (không phát hiện), độ trong, nhiệt độ nằm trong giới hạn cho phép;

+ Chỉ số pH (6,51 – 6,98), độ mặn (0 – 4‰), độ kiềm (26,0 – 38,0 mg CaCO3/l) thấp hơn giới hạn cho phép;

Quan trắc môi trường nước nuôi tôm

+ Chỉ số BOD5 khu vực Rạch Tôm nằm trong giới hạn cho phép (4,89 mg/l), khu vực Cầu Sóc Vàm và Bến Đò Kinh Lộ cao hơn giới hạn cho phép (29,38 – 31,01 mg/l);

+ Chỉ số TSS tại các khu vực đều vượt giới hạn cho phép (110 – 120 mg/l).

– Chỉ tiêu vi sinh: khu vực Cầu Sóc Vàm và Bến Đò Kinh Lộ có sự hiện diện của Aeromonas với mật độ thấp (0,05 – 0,075 x 103CFU/ml), trừ khu vực Rạch Tôm có sự hiện diện của Aeromonas với mật độ cao (1,895×103CFU/ml);

+ Tại các khu vực có sự hiện diện của Coliform với mật độ cao (2,4 x 104MPN/100ml) và E.Coli (< 3MPN/100ml).

b) Huyện Cần Giờ

– Chỉ tiêu lý hóa

+ Chỉ số NH4-N (< 0,01 mg/l), DO (4,48 – 4,65 mg/l), COD (2,64 – 10,72 mg/l), Cd và sunfua (không phát hiện), Pb (KPH – 0,0029), photphat tổng (KPH – 0,06), nhiệt độ, độ trong tại các khu vực nằm trong giới hạn cho phép;

+ Chỉ số pH (7,05 – 7,27) và độ mặn (5 – 11 ‰) tại đa số các khu vực đều nằm trong giới hạn cho phép; trừ khu vực Bông Giếng, Rạch Đước (BK) và Kinh Bà Tổng có chỉ số pH (6,65 – 6,97) và độ mặn (1 – 4 ‰) thấp hơn giới hạn cho phép;

+ Độ kiềm khu vực Rạch Ông Thành nằm trong giới hạn cho phép (68,5 mg CaCO3/l); các khu vực còn lại thấp hơn giới hạn cho phép (30,0 – 58,0 mg CaCO3/l);

+ Chỉ số BOD5 tại khu vực Bông Giếng (BK), Rạch Đước và Kinh Bà Tổng nằm trong giới hạn cho phép (13,06 – 17,95 mg/l); các khu vực còn lại đều cao hơn giới hạn cho phép (26,15 – 39,30 mg/l);

+ Chất rắn lơ lửng TSS tại các khu vực đều vượt giới hạn cho phép (97 – 140mg/l).

– Chỉ tiêu vi sinh: đa số các khu vực có sự hiện diện của Vibrio spp với mật độ thấp (< 10 – 0,185 x 103CFU/ml), trừ khu vực Doi Tiều cao hơn giới hạn cho phép (3,40×103CFU/ml);

+ Khu vực Bông Giếng, Rạch Đước (BK) và Kinh Bà Tổng có độ mặn (< 5‰) có sự hiện diện của Aeromonas với mật độ thấp (0,052 – 0,70 x 103CFU/ml); không có sự hiện diện của Vibrio phát sáng;

+ Khu vực Kinh Hốc Hỏa có sự hiện diện của Coliform với mật độ thấp (4,6 x 103MPN/100ml), các khu vực còn lại có sự hiện diện của Coliform với mật độ cao (1,1 – 2,4 x 104 MPN/100ml);

+ Đa số các khu vực không sự hiện diện của E.Coli (< 3MPN/100 ml), trừ khu vực Bông Giếng có sự hiện diện của E.Coli với mật độ cao (2,4 x 103MPN/100 ml).

c) Chất lượng môi trường nước vùng nuôi nhuyễn thể huyện Cần

Chỉ tiêu lý hóa

+ Độ pH (7,20 – 7,73); độ mặn tại các khu vực dao động trong khoảng (25 – 29‰), riêng khu vực Đuôi Sam (4) có độ mặn 11‰; độ kiềm (61,5 – 124,0mg CaCO3/l); NH4-N (< 0,01mg/l); COD (2,88 – 4,67 mg/l); Cd và sulfua (không phát hiện); Pb (KPH – 0,0037mg/l) trong giới hạn cho phép;

+ TSS (95 – 140mg/l); BOD5 tại khu vực Đuôi Sam (4) (44,06mg/l), các khu vực còn lại có BOD5 dao động trong khoảng (310,1 – 538,6mg/l) cao hơn giới hạn cho phép;

+ Photphat tổng tại đa số các khu vực trong giới hạn cho phép (KPH – 0,19mg/l), trừ khu vực Đầu Vàm TA cao hơn giới hạn cho phép (0,21mg/l).

– Chỉ tiêu vi sinh: đa số các khu vực có sự hiện diện của Vibrio spp với mật độ thấp (0,145 – 0,95×103CFU/ml). Trừ khu vực Sân Xim, Sân Tư Trung, Sân Quẹo, Hòa Hiệp và Đầu Vàm TA có sự hiện diện của Vibrio spp với mật độ cao (1,18 – 2,50×103CFU/ml);

+ Khu vực Sân Xim, Sân Tư Trung, Sân Quẹo, Hòa Hiệp và Đầu Vàm TA có sự hiện diện của Vibrio phát sáng (5 – 15CFU/ml); các khu vực còn lại không có sự hiện diện của Vibrio phát sáng;

+ Đa số các khu vực có sự hiện diện của Coliform E. Coli < 3MPN/100 ml. Trừ khu vực Đuôi Sam có sự hiện diện của Coliform với mật độ cao (2,4×104MPN/100ml).

2. Khuyến cáo

– Đối với nuôi tôm nguồn nước cấp đầu vào: cần tuân thủ qui trình xử lý ban đầu (diệt tạp, diệt khuẩn, giảm hàm lượng chất rắn lơ lửng bằng các hóa chất được phép sử dụng) nhằm hạn chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh đảm bảo chất lượng nước phù hợp nhất trước khi đưa vào ao nuôi, đặc biệt các khu vực nguồn nước tự nhiên có sự xuất hiện Coliform, E.Coli phải có giải pháp kiểm soát hiệu quả: định kỳ bổ sung chế phẩm sinh học (vi sinh, enzyme,…) và quản lý tốt chất lượng nguồn nước trong quá trình nuôi;

–  Các ao đang cải tạo chuẩn bị nuôi: cần tuân thủ quy trình kỹ thuật trong cải tạo ao, bơm cấp nước và xử lý môi trường đảm bảo phù hợp các chỉ tiêu thủy, lý hóa, vi sinh,… trước khi thả giống. Đối với con giống cần lựa chọn những cơ sở đủ điều kiện, chất lượng con giống được xét nghiệm không mang mầm bệnh và đảm bảo các yêu cầu cảm quan theo quy định;

– Ao đang nuôi: cần duy trì mực nước trên 1m và thường xuyên kiểm tra các thông số chất lượng nước, quản lý việc cho ăn và sức khỏe đàn tôm, chú ý đề phòng tôm bị sốc do môi trường thay đổi đột ngột. Đồng thời kiểm tra bờ ao tránh sạt lở, rò rỉ để ngăn phèn từ bên ngoài vào bên trong ao nuôi. Trong các trường hợp lấy nước, cần phải qua ao lắng xử lý theo đúng qui trình kỹ thuật, lưu ý cần bổ sung vôi để nâng độ kiềm lên mức phù hợp;

– Để nâng độ kiềm tại các điểm thu mẫu thấp hơn giới hạn (<60mg CaCO3/L) và ổn định độ pH trong ao nuôi, người nuôi tôm có thể sử dụng vôi (CaCO3, Ca(MgCO3)2,..);

– Bổ sung men tiêu hóa và các chất giúp tăng cường sức đề kháng, hỗ trợ hệ miễn dịch cho thủy sản nuôi như: Vitamin C, Beta-glucan,… khi thời tiết thay đổi.

Đối với nuôi nghêu nên thả nuôi mật độ từ 180-200 con/m2; cỡ giống nuôi từ 400-600 con/kg; không thả giống vào thời điểm thời tiết không thuận lợi (từ tháng 1-3 âm lịch)

– Đối với nghêu đạt cỡ thu hoạch thì khẩn trương thu hoạch tránh thiệt hại xảy ra;

– Đối với nghêu chưa đạt cỡ thu hoạch thì chủ động san thưa không để mật độ nuôi quá dày.

(Nguồn tổng hợp từ Chi Cục Thủy sản)

                                                                   ThS.Nguyễn Thị Gái Nhỏ            

(Phòng kỹ thuật – Trung tâm Khuyến nông)