Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên truyền dự thảo Luật Đô thị đặc biệt

    Nhằm giải quyết các điểm nghẽn, các nút thắt về thể chế; khắc phục sự giới hạn của các quy định hiện hành; tháo gỡ các rào cản hành chính, phân quyền thực chất; giúp Thành phố Hồ Chí Minh – siêu đô thị lớn nhất cả nước, có thể phát huy tối đa tiềm năng, chủ động phân cấp mạnh mẽ  và đặc biệt có thể tự quyết, huy động nguồn lực, kiến tạo tầm nhìn, phát huy tối đa vai trò đầu tàu kinh tế cả nước, trở thành một trung tâm tài chính, kinh tế, đổi mới sáng tạo mang tầm quốc tế,… Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Bộ Tư pháp xây dựng dự thảo Luật Đô thị đặc biệt, với mục tiêu tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, chuyển từ mô hình “luật quản lý” sang “luật kiến tạo” để tạo bệ phóng bứt phá trong kỷ nguyên mới.

Vì vậy, để nâng cao ý nghĩa, tầm quan trọng, quan điểm, mục tiêu, định hướng xây dựng và các cơ chế, chính sách trọng tâm của dự thảo Luật Đô thị đặc biệt, tạo sự thống nhất và đồng thuận trong Nhân dân, toàn hệ thống chính trị và các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan trong quá trình dự thảo, trình ban hành và tổ chức thi hành Luật. Đồng thời, tăng cường công khai, minh bạch thông tin, tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và công tác chỉ đạo, điều hành của Thành phố trong quá trình xây dựng dự thảo Luật và triển khai Luật Đô thị đặc biệt, bảo đảm đưa Luật Đô thị đặc biệt vào cuộc sống hiệu quả,… vừa qua Ủy ban nhân dân Thành phố đã ban hành Kế hoạch số 307/KH-UBND ngày 17/6/2026 về tuyên truyền dự thảo Luật Đô thị đặc biệt. Thời gian tuyên truyền từ tháng 6/2026 đến tháng 9/2026.

    Hình thức tuyên tuyền sẽ thông qua các phương tiện thông tin đại chúng; Cổng/Trang thông tin điện tử của các sở, ban, ngành; Uỷ ban nhân dân các phường, xã và đặc khu; các tổ chức chính trị – xã hội và doanh nghiệp; hệ thống thông tin cơ sở; hệ thống truyền thanh cơ sở; các tài khoản mạng xã hội của chính quyền địa phương các cấp; các hình thức cổ động trực quan như băng rôn, khẩu hiệu, pa nô, áp phích, màn hình điện tử,…

    Bên cạnh đó, tuyên truyền thông qua các nền tảng công nghệ số, mạng xã hội; chú trọng phát huy vai trò của người có sức ảnh hưởng trên mạng xã hội (KOL), mạng đa kênh (MCN) và các tổ chức, cá nhân tham gia sáng tạo nội dung số; thông qua các hội nghị, hội thảo, tọa đàm, tập huấn, đối thoại chính sách, sinh hoạt chuyên đề và các hình thức tuyên truyền trực tiếp phù hợp; thông qua hoạt động tuyên truyền miệng của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật.

    Về lộ trình triển khai và nội dung trọng tâm tuyên truyền, được chia ra làm 03 giai đoạn:

    Thứ nhất, giai đoạn xây dựng, hoàn thiện dự thảo Luật Đô thị đặc biệt, Thành phố sẽ tuyên truyền về sự cần thiết ban hành Luật Đô thị đặc biệt; quan điểm, mục tiêu, định hướng xây dựng Luật và những yêu cầu đặt ra trong quá hoàn thiện thể chế nhằm tạo cơ sở pháp lý cho sự phát triển nhanh, bền vững, phát huy vai trò đầu tàu kinh tế, trung tâm lớn về kinh tế, tài chính, thương mại, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế của Thành phố Hồ Chí Minh.

    Thứ hai, giai đoạn Quốc hội xem xét, thông qua Luật Đô thị đặc biệt, Thành phố sẽ thông tin kịp thời, đầy đủ về quá trình Quốc hội xem xét, thảo luận, cho ý kiến và thông qua Luật Đô thị đặc biệt; phản ánh các ý kiến đóng góp của đại biểu Quốc hội, các cơ quan Trung ương, chuyên gia, nhà khoa học và cử tri đối với các nội dung của dự thảo Luật.

    Thứ ba, giai đoạn triển khai thi hành Luật Đô thị đặc biệt, Thành phố chú trọng tuyên truyền, phổ biến nội dung cơ bản, các điểm mới của Luật Đô thị đặc biệt và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Tuyên truyền về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp và người dân trong việc tổ chức thực hiện Luật; nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức, doanh nghiệp và người dân. Đẩy mạnh thông tin đối ngoại, quảng bá cơ chế, chính sách mới của Luật Đô thị đặc biệt và môi trường đầu tư, kinh doanh của Thành phố Hồ Chí Minh với hình ảnh Thành phố năng động, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút các nguồn lực phục vụ phát triển.

    Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân Thành phố đề nghị các sở, ban, ngành, đơn vị và đoàn thể Thành phố, các đơn vị liên quan căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, chủ động xây dựng kế hoạch hoặc lồng ghép trong Chương trình công tác năm (phù hợp theo từng giai đoạn) tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả công tác tuyên truyền dự thảo Luật; phổ biến, tuyên truyền Luật Đô thị đặc biệt và các văn bản hướng dẫn thi hành sau khi được ban hành. Chủ động tổ chức phổ biến, quán triệt nội dung dự thảo Luật, Luật Đô thị đặc biệt và các văn bản hướng dẫn thi hành đến cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, doanh nghiệp và Nhân dân bằng các hình thức phù hợp; phối hợp cung cấp thông tin, tài liệu, nội dung thuộc lĩnh vực quản lý để phục vụ công tác tuyên truyền theo yêu cầu.

Nội dung cơ bản của dự thảo Luật Đô thị đặc biệt

    Chương I (Quy định chung) xác định phạm vi điều chỉnh, vị trí, vai trò của đô thị đặc biệt; giải thích các khái niệm quan trọng như đô thị lấn biển, đô thị trên đảo và 3 mô hình hợp tác công – tư mới gồm: Lãnh đạo công – Quản trị tư; Đầu tư công – Quản lý tư; Đầu tư tư – Sử dụng công. Chương này cũng đặt ra nguyên tắc phân quyền triệt để, toàn diện, phân định rõ thẩm quyền giữa HĐND, UBND và Chủ tịch UBND TPHCM trong các lĩnh vực, trừ quốc phòng, an ninh, đối ngoại và tôn giáo, gắn với cơ chế kiểm soát quyền lực.

    Chương II (quy định về tổ chức chính quyền, chế độ công vụ và ban hành văn bản quy phạm pháp luật) trong đó có các cơ chế đặc thù về tổ chức bộ máy chính quyền đô thị, quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật khác với quy định của Trung ương để phù hợp yêu cầu thực tiễn, cơ chế thí điểm chính sách mới trong thời hạn không quá 5 năm và có thể gia hạn không quá 5 năm.

    Chương III (quy định về quy hoạch, xây dựng, phát triển đô thị và trật tự, an toàn đô thị) mở rộng thẩm quyền quản lý, khai thác không gian ngầm, không gian tầm thấp và tầm cao; phát triển đô thị và nhà ở trong đó có các mô hình đô thị ven sông, đô thị trên đảo, đô thị lấn biển, phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD); đồng thời quy định các cơ chế về hạ tầng giao thông, vận tải, logistics và trật tự, an toàn đô thị.

    Chương IV (quy định về phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội) gồm các cơ chế phát triển doanh nghiệp nhà nước, kinh tế biển, các loại hình kinh tế mới, khu thương mại tự do, khu logistics tích hợp, khu chế xuất, khu công nghiệp, hạ tầng và công nghiệp năng lượng; đồng thời có cơ chế đặc thù về văn hóa, thể thao, du lịch, kinh tế ban đêm, giáo dục, y tế và an sinh xã hội.

    Chương V (Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số) tạo hành lang pháp lý cho thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), Quỹ Đầu tư mạo hiểm và phát triển các khu công nghệ cao, đô thị khoa học công nghệ – đổi mới sáng tạo.

    Chương VI (Nguồn lực phát triển Đô thị đặc biệt) quy định các cơ chế tự chủ tài chính – ngân sách; mở rộng thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư; quản lý, khai thác tài sản công và tài nguyên; thu hút, trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao và thu hút, ưu đãi đầu tư.

    Chương VII (Liên kết, phát triển vùng và bảo vệ môi trường) xác định Vùng đô thị đặc biệt TPHCM, mục tiêu và nguyên tắc liên kết vùng; cơ chế đầu tư, quản lý các dự án liên kết phát triển vùng; bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu trong vùng đô thị đặc biệt.

    Chương VIII (Giám sát, kiểm tra và trách nhiệm giải trình) quy định trách nhiệm của Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành và chính quyền Thành phố trong giám sát, kiểm tra, xử lý vi phạm và cơ chế loại trừ, miễn trách nhiệm pháp lý.

    Chương IX (Điều khoản thi hành) quy định hiệu lực thi hành và các điều khoản chuyển tiếp.

(Chi tiết đính kèm Kế hoạch số 307/KH-UBND ngày 17/6/2026 về tuyên truyền dự thảo Luật Đô thị đặc biệt; dự thảo Luật Đô thị đặc biệt)

M.Hiếu