Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định Chương trình phát triển nông nghiệp đô thị giai đoạn 2026 – 2030

    Phát triển nông nghiệp đô thị được xem là một chiến lược phát triển quan trọng của sự kết hợp hài hòa giữa sản xuất nông nghiệp và phát triển đô thị, tận dụng không gian sẵn có để tạo ra những lợi ích kép, vừa thỏa mãn nhu cầu thực phẩm sạch tươi ngon, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và tăng thu nhập cư dân đô thị; vừa tạo môi trường sống xanh, sạch, đẹp ở trong và ven đô thị, nâng cao sức khỏe cộng đồng. Xây dựng chiến lược phát triển nông nghiệp đô thị có tầm nhìn dài hạn, phù hợp với quy hoạch tổng thể của đô thị và tốc độ đô thị hóa là xu hướng chung của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

    Thành phố Hồ Chí Minh sau sáp nhập không chỉ là đô thị đặc biệt, lớn nhất cả nước, mà là siêu đô thị, với tổng diện tích tự nhiên hơn 6.722 km², là đô thị đa trung tâm, đa cực có tốc độ đô thị hóa nhanh so với cả nước. Đặc biệt sau sáp nhập ngành nông nghiệp Thành phố có địa bàn sản xuất rộng với 168 đơn vị hành chính cấp xã (113 phường, 54 xã và 01 đặc khu), đồng thời có quy mô sản xuất lớn hơn, với khoảng 451.021 ha đất nông nghiệp (gấp gần 4 lần diện tích đất nông nghiệp của Thành phố trước đây), mở ra không gian mới cho ngành nông nghiệp phát huy tiềm năng và lợi thế sẵn có, đó là trung tâm công nghệ sinh học, trung tâm sản xuất giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản chất lượng cao; vùng cây công nghiệp, cây ăn trái và trang trại chăn nuôi tập trung; vùng nuôi trồng thủy sản nước mặn lợ quy mô lớn theo hướng công nghệ cao, an toàn phục vụ nhu cầu tại chỗ và xuất khẩu,… Ngoài những thuận lợi như trên, bên cạnh đó vẫn còn những khó khăn thách thức từ sự chịu tác động mạnh mẽ của đô thị hóa nhanh, dẫn đến tăng trưởng nông nghiệp và thu nhập của nông dân trong những năm gần đây có xu hướng tăng chậm lại, đòi hỏi phải có chiến lược, giải pháp phù hợp, hướng đến phát triển nền nông nghiệp bền vững.

    Vì vậy, nhằm thúc đẩy phát triển nền nông nghiệp đô thị hiện đại, ứng dụng công nghệ cao, tuần hoàn, hữu cơ phù hợp với diện tích đất nhỏ hẹp và các khoảng không gian trống trong nội đô và khu vực ven đô đang bị tác động mạnh của đô thị hóa; qua đó cung cấp các sản phẩm nông nghiệp tươi sống chất lượng cao, an toàn cho nhu cầu tại chỗ; tạo cảnh quan xanh – sạch – đẹp, cải thiện môi trường và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên; tăng thu nhập và cải thiện mức sống của dân cư đô thị và ven đô; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và xây dựng đô thị thông minh, hiện đại, phù hợp với tình hình thực tiễn của Thành phố Hồ Chí Minh sau sáp nhập,… Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 4514/QĐ-UBND ngày 22/7/2026 về Chương trình phát triển nông nghiệp đô thị trên địa bàn thành phố giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

    Theo Chương trình, đến năm 2030, Thành phố Hồ Chí Minh phấn đấu xây dựng nền nông nghiệp đô thị ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, sinh thái và kinh tế tuần hoàn, đồng thời trở thành trung tâm cung ứng giống cây trồng, vật nuôi, dịch vụ khoa học – công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp chất lượng cao cho vùng Đông Nam Bộ và cả nước. Trong đó, chỉ tiêu cụ thể Thành phố đề ra: Giá trị sản xuất bình quân đạt tối thiểu 700 triệu đồng/ha/năm; nông nghiệp đô thị chiếm trên 50% tổng giá trị sản xuất toàn ngành; tỷ lệ giá trị sản xuất thông qua hợp tác, liên kết đạt từ 40% trở lên; trên 30% hộ dân đô thị tham gia các mô hình nông nghiệp đô thị. Cùng với đó, diện tích cây xanh bình quân khu vực đô thị được nâng lên đạt 5,5 m²/người, góp phần cải thiện cảnh quan và chất lượng môi trường.

    Để hiện thực hóa mục tiêu trên, Thành phố quy hoạch tổng diện tích đất nông nghiệp đến năm 2030 là 391.089 ha, đồng thời ưu tiên chuyển đổi những vùng sản xuất kém hiệu quả sang các mô hình nông nghiệp có giá trị gia tăng cao. Đối với cây trồng hàng năm, thành phố mở rộng diện tích rau ứng dụng công nghệ cao lên khoảng 2.300 ha, phát triển 1.500 ha rau đạt tiêu chuẩn VietGAP và hữu cơ, đồng thời xây dựng vùng sản xuất hoa, cây cảnh khoảng 2.500 ha, trong đó phần lớn áp dụng công nghệ cao. Diện tích lúa luân canh với rau màu vẫn được duy trì nhằm tiết kiệm nước và cải tạo đất.

    Ở nhóm cây lâu năm, thành phố tập trung phát triển hơn 35.500 ha cây ăn quả với các loại cây có giá trị kinh tế như sầu riêng, xoài, bưởi và các loại cây có múi; đồng thời cải tạo các vườn tạp thành mô hình “nhà – vườn” kết hợp du lịch sinh thái ven sông. Lĩnh vực thủy sản cũng được chú trọng với việc mở rộng nuôi tôm và cá cảnh ứng dụng công nghệ cao, hướng đến sản xuất an toàn và nâng cao giá trị xuất khẩu. Bên cạnh đó, gần 1.850 ha đất muối kém hiệu quả sẽ được chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản nước mặn, nước lợ hoặc phát triển du lịch trải nghiệm, trong khi hơn 7.000 ha được quy hoạch phục vụ xây dựng nhà màng, nhà kính và hạ tầng chế biến.

    Đối với khu vực nội đô, các phường không còn đất sản xuất nông nghiệp sẽ được khuyến khích phát triển mô hình nông nghiệp trên mái nhà, ban công, nông nghiệp thẳng đứng, thủy canh và khí canh nhằm tận dụng không gian và tạo nguồn thực phẩm tại chỗ. Những phường còn quỹ đất hạn chế sẽ tập trung phát triển hoa, rau và cá cảnh công nghệ cao, đồng thời nâng cấp các trung tâm logistics nông sản và phát huy giá trị các làng nghề truyền thống. Với các khu vực còn quỹ đất lớn hơn, thành phố khuyến khích hình thành những vùng chuyên canh quy mô nhỏ, mô hình trang trại đô thị kết hợp dịch vụ.

    Tại khu vực ven đô, chương trình định hướng phát triển các vùng sản xuất tập trung gắn với lợi thế từng địa phương. Các xã dự kiến chuyển lên phường sẽ phát triển rau, hoa công nghệ cao, làng nghề cây kiểng, nuôi trồng thủy sản công nghệ cao và du lịch sinh thái. Trong khi đó, các xã vùng xa sẽ tập trung xây dựng vùng cây ăn trái chuyên canh, chăn nuôi trang trại khép kín, phát triển nông nghiệp hữu cơ và kinh tế tuần hoàn. Riêng Côn Đảo được định hướng phát triển mô hình nông nghiệp hữu cơ gắn với bảo tồn thiên nhiên, kinh tế carbon và tín chỉ carbon.

    Chương trình cũng xác định nhóm sản phẩm chủ lực của ngành nông nghiệp thành phố trong giai đoạn tới. Đối với trồng trọt, diện tích rau và nấm an toàn dự kiến đạt từ 25.000 – 30.000 ha, sản lượng khoảng 750.000 – 900.000 tấn, với 100% vùng sản xuất tập trung đạt tiêu chuẩn VietGAP hoặc hữu cơ. Hoa, cây kiểng tiếp tục là ngành hàng có giá trị cao với mục tiêu phát triển 2.500 ha, đồng thời nghiên cứu, chọn tạo thêm nhiều giống mới và gắn với phát triển du lịch làng nghề. Các vùng cây ăn quả cũng được đầu tư công nghệ sau thu hoạch nhằm nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh.

    Trong lĩnh vực chăn nuôi, Thành phố Hồ Chí Minh đặt mục tiêu đến năm 2030 có từ 70 – 80% giá trị sản xuất ứng dụng công nghệ cao, 100% trang trại quy mô lớn đạt chuẩn an toàn dịch bệnh và phần lớn gia súc, gia cầm được giết mổ tại các cơ sở công nghiệp tập trung. Chăn nuôi bò, heo, gia cầm sẽ được phát triển theo hướng an toàn sinh học, tuần hoàn và giảm phát thải, góp phần xây dựng nền nông nghiệp thân thiện với môi trường.

    Với tầm nhìn đến năm 2050, thành phố hướng tới hình thành nền nông nghiệp xanh, phát thải thấp, đáp ứng các tiêu chuẩn ESG, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số và logistics hiện đại trong toàn bộ chuỗi giá trị.

(Chi tiết đính kèm Quyết định số 4514/QĐ-UBND ngày 22/7/2026 về Chương trình phát triển nông nghiệp đô thị trên địa bàn thành phố giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 Phu_luc_1,2,3, Phu_luc_4_kinh_phi)

M.Hiếu