Nguyên tắc hợp tác công tư trong hoạt động Khuyến nông

Nhằm xây dựng mối liên kết giữa các cơ quan quản lý, cơ quan nghiên cứu, hệ thống khuyến nông, doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện sản xuất bền vững, ngày 25/8/2020, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đã ban hành Quyết định số 162/QĐ – KN – ĐTHL về nguyên tắc hợp tác công tư trong hoạt động khuyến nông. Nguyên tắc với mục đích đổi mới cách tiếp cận khuyến nông, tập trung nguồn lực, làm tốt công tác xã hội hóa khuyến nông để phát huy tối đa tiềm lực từ khối công và khối tư, tạo sức mạnh tổng hợp giúp cho công cuộc đổi mới nông nghiệp nông thôn nói chung và công cuộc đổi mới khuyến nông nói riêng nhanh chóng và bền vững, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đã tổ chức hội thảo: Tăng cường hợp tác công tư (PPP) trong hoạt động khuyến nông.

Mô hình Khuyến nông về trồng rau thủy canh tại Quận 12, TP.HCM

Theo đó, phạm vi hợp tác và các bên tham gia hợp tác là các tổ chức Quốc tế, Tổ chức phi chính phủ, các doanh nghiệp, Chương trình nghiên cứu trong và ngoài nước có các hoạt động hợp tác với Trung tâm Khuyến nông Quốc gia triển khai thực hiện thông qua hệ thống khuyến nông Việt Nam.

Mục tiêu nhằm tạo ra sự hợp tác giữa hệ thống khuyến nông, doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế và tư nhân để thực hiện mục tiêu của các bên một cách bền vững, thu hút tối đa và sử dụng hiệu quả nguồn lực của các bên để hợp tác chuyển giao công nghệ, tổ chức sản xuất, tránh trùng lặp, lãng phí vốn. Xây dựng mối liên kết giữa các cơ quan quản lý, cơ quan nghiên cứu, hệ thống khuyến nông, doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện sản xuất bền vững, phục vụ xuất khẩu nông sản. Sử dụng có trách nhiệm vật tư nông nghiệp.

Nội dung hợp tác tập trung vào hỗ trợ khởi nghiệp, sáng tạo trong lĩnh vực nông nghiệp, tập trung vào các mô hình kinh doanh mới, góp phần định hướng sản xuất và xây dựng thương hiệu sản phẩm; Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về giống, công nghệ sản xuất, cơ giới hóa, công nghệ bảo quản, chế biến sau thu hoạch, các quy trình kỹ thuật sản xuất an toàn, sản xuất theo hướng hữu cơ, phát triển các sản phẩm OCOP, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ tự động hóa và công nghệ cao,…; Đào tạo tập huấn nâng cao năng lực cho nông dân, người sản xuất, kỹ năng chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, bồi dưỡng, cập nhật và nâng cao kiến thức về sản xuất an toàn, sản xuất theo chuỗi giá trị, kiến thức về biến đổi khí hậu, sản xuất theo định hướng thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế; Ứng dụng công nghệ thông tin để nhân rộng mô hình điển hình tiên tiến, kết quả nghiên cứu, tiến bộ khoa học và công nghệ, các điển hình tiên tiến, các công nghệ sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai; Phát triển nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu, phát triển nông nghiệp bền vững, nông nghiệp 4.0, phòng chống thiên tai rủi ro trong sản xuất; Xây dựng thương hiệu nhãn mác sản phẩm; Liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; Phát triển nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu, phát triển nông nghiệp bền vững, nông nghiệp 4.0, phòng chống thiên tai rủi ro trong sản xuất; Phát triển sinh kế bền vững, phát triển nông thôn; Xây dựng chính sách và chiến lược phát triển,…

Quyết định hoạt động theo nguyên tắc hợp tác công khai minh bạch thông tin, hiệu quả phù hợp với pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế, tuân thủ hướng dẫn của ASEAN về đầu tư có trách nhiệm đối với nông lâm nghiệp và thực phẩm. Hợp tác bình đẳng, phát huy vai trò chủ động, tích cực, tự nguyện và trách nhiệm, đảm bảo các bên tham gia cùng có lợi. Có cơ chế giám sát tài chính chặt chẽ trong quá trình triển khai, theo yêu cầu và thống nhất giữa các bên. Các bên tham gia tạo môi trường thuận lợi tốt nhất để thực hiện các hoạt động hợp tác PPP, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp bền vững. Đảm bảo bình đẳng giới trong các hoạt động hợp tác PPP.

Bên cạnh đó, Quyết định cũng nêu rõ, hình thức hợp tác thông qua biên bản ghi nhớ hợp tác (MOU). Biên bản nghi nhớ hợp tác là biên bản thỏa thuận giữa Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và các bên tham gia về một lĩnh vực hợp tác cụ thể, theo đó thống nhất mục tiêu, nội dung, phương pháp tổ chức hợp tác, kinh phí đóng góp của các bên để thực hiện một hoạt động cụ thể. Các bên cam kết và có trách nhiệm thực hiện thông qua các hợp đồng trong khuôn khổ MOU. Thông qua hợp đồng cung cấp dịch vụ, thỏa thuận hợp tác song phương giữa Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và các bên liên quan khác để thực hiện các hoạt động cụ thể. Đồng thời, Quyết định cũng ghi rõ quyền lợi và trách nhiệm của các bên như: các đơn vị khối Công, các đơn vị khối tư nhân và các đơn vị đối tác.

M.Hiếu