Một số sinh vật hại trên cây mai

          Mai vàng (Ochna integerrima) còn gọi là hoàng mai, huỳnh mai hay lão mai, và được trồng làm cảnh phổ biến ở miền Nam vào dịp  Tết Nguyên Đán.

          Cây mai vàng thích nghi với vùng có khí hậu nóng ẩm hơn là vùng có khí hậu rét lạnh và có mùa mưa bão kéo dài; cây không quá kén đất trồng, có thể dùng các loại đất khác nhau như: đất thịt, đất cát pha, đất đỏ bazan, đất sét pha và đất phù sa đều trồng mai được,… miễn là đất đó không quá nghèo chất dinh dưỡng. Khu đất trồng mai đòi hỏi phải có nắng, không bị che rợp và phải cao ráo không bị ngập úng do mưa lũ hay triều cường.

         Tại Thành phố Hồ Chí Minh, cây mai được trồng nhiều ở xã Bình Lợi, huyện Bình Chánh với diện tích hơn 250 ha. Đây là một trong những địa phương thực hiện chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, chuyển đổi những cây trồng không đạt hiệu quả kinh tế (cây mía, dứa) sang trồng mai và hiện đã hình thành Làng mai Bình Lợi, phục vụ nhu cầu thưởng lãm mai của người dân trong và ngoài Thành phố vào những dịp Tết Nguyên đán. Để giúp người trồng mai có thể phòng trừ cũng như nhận biết và chữa trị một số sinh vật hại trên cây mai, bài viết sẽ đưa ra một số bệnh hại trên cây mai thường gặp như sau:

  1. Bệnh cháy lá (Pestalotia funerea):

          Bệnh phát sinh vào đầu và giữa mùa mưa, khi gặp nắng mưa xen kẽ. Bệnh hại chủ yếu trên lá, xuất hiện đầu tiên ở chóp và mép lá tạo thành vệt màu nâu, lan dần vào phiến lá thành mảng lớn, màu nâu xám, phân biệt rõ với phần xanh của lá, mảng cháy có khi chiếm trên 1/2 diện tích lá. Trên vết bệnh có những chấm đen nhỏ là ổ bào tử. lá bệnh nặng chuyển màu vàng và rụng. bệnh phát sinh chủ yếu trên lá già.

      2. Bệnh đốm đồng tiền (địa y)

          Đốm bệnh là mảng địa y, tức là dạng cộng sinh giữa rêu và nấm. Bệnh thường phát triển trên các thân cây lâu năm, già cỗi, lớp mô vỏ cây đã chết là môi trường cho rong rêu và các loại nấm hoại sinh phát triển. Lúc đầu bệnh chỉ tập trung ở phần thân sát gốc, về sau bệnh phát triển dần lên các nhánh cấp 1, nhánh cấp 2…  Những cây có tán lá rậm rạp, ít ánh nắng, ẩm thấp rất thích hợp cho địa y phát triển.

          Ban đầu vết bệnh chỉ là những đốm rất nhỏ 2 – 3 mm, sau đó phát triền dần lên có đường kính 3 – 5 cm. Vết bệnh đa số có dạng hình tròn hoặc hơi tròn như đồng tiền, màu xám trắng hay xám xanh. Nếu nặng nhiều vết bệnh sẽ liên kết lại thành mảng lớn có hình dạng bất định, loang lổ, cứ thế nhiều lớp chồng chất lên nhau làm cho lớp vỏ của cây dày lên, có độ xốp giống như một lớp nhung bao quanh gốc cây mai.

        Không nên trồng hoặc sắp xếp những chậu mai trong vườn quá dày, để vườn mai được thông thoáng, khô ráo, dưới tán, dưới gốc cây nhận được thêm ánh sáng mặt trời.

         Thiết kế mặt liếp để trồng mai (hoặc để đặt chậu mai) theo hình mai rùa, xẻ rãnh thoát nước để nước không đọng lại trên mặt vườn trong mùa mưa.      

         Định kỳ hàng năm phun 2 – 3 lần, phun ướt đều thân cây bằng các thuốc gốc đồng như: Bordeaux, CoC 85, Funguran,… Đối với những gốc mai đã bị bệnh: dùng thuốc Norshield 86.2 WG (3 g/lít nước). Quét ướt đều thân, cành và gốc liên tục 3 – 5 đợt, mỗi đợt cách nhau 7 – 10 ngày.

  1. Bệnh đốm lá (Pestalotia palmarum)

         Đầu tiên bệnh xuất hiện chỉ là một chấm nhỏ li ti, sau đó vết bệnh lan nhanh cả lá, viền vết bệnh có mầu nâu đậm, chỗ tiếp giáp giữa mô bệnh và mô khoẻ có quầng mầu vàng nhạt. Bệnh nặng lá bị vàng rồi cháy lỗ chỗ, nhất là bìa lá, làm lá quăn queo. Bệnh thường xuất hiện trên những lá già rồi lan dần đến lá non, đọt non. Ở nhánh non bị bệnh làm lá bị rụng, đọt bị cháy khô, cây chậm phát triển.

          Trồng với mật độ vừa phải để cây mai được thông thoáng. Vệ sinh vườn bằng cách cắt tỉa thu gom lá bị bệnh tiêu hủy để tránh lây lan. Bón phân cân đối, tăng cường bón thêm phân hữu cơ và kali giúp cây kháng bệnh. Dùng thuốc hoá học: Viben C, phun ướt đều cả hai mặt lá, cần lập lại 2 – 3 lần, sau 5 – 7 ngày để trị bệnh. Phun từ 10 – 15 ngày/ lần để phòng trừ bệnh.

  1. Bệnh mốc cam (Coniothyrium fuckelli)

          Bệnh thường gây hại nặng giai đoạn đầu và giữa mùa mưa. Bệnh hại chủ yếu trên cành và lá non; vết bệnh lúc đầu là những đốm màu hồng (hơi giống màu đỏ đồng), sau đó vết bệnh cứ phát triển rộng dần ra bao quanh hết cả đoạn cành, đồng thời cũng phát triển lên cả phía trên và phía dưới của chỗ bị bệnh. Khi vết bệnh đã bao quanh kín hết cả một đoạn cành thì đa số những lá mai phía trên chỗ bị bệnh sẽ có màu vàng, xanh loang lổ, rồi bị rụng dần, khúc cành phía trên chỗ bị bệnh trở lên khô nứt, giòn dễ gẫy. Bệnh nặng làm cành khô và chết.

         Định kỳ tỉa cành, cắt bỏ các cành bị gẫy hoặc bị bệnh. Sau khi tỉa cành phun thuốc Daconil, Zineb, COC 85,…

  1. Bệnh vàng lá cây mai (Bệnh sinh lý)

          Thường xuất hiện vào những tháng gần cuối năm; nguyên nhân chủ yếu do cây tập trung dinh dưỡng để tạo búp hoa. Cây mai trồng trong chậu, đất xấu, ít được bón phân, thường bị bệnh vàng lá và bệnh cháy lá. Lá non có màu vàng nhạt hoặc trắng bạc, các gân lá còn xanh, phiến lá hơi bị cong. Triệu chứng thường xuất hiện từ lá già và đi dần lên trên, cây sinh trưởng chậm lại.

          Bón đầy đủ phân khi có hiện tượng vàng lá, ngoài bón phân nên kết hợp phun phân bón lá có chất vi lượng, cây sẽ mau hết bệnh.

  1. Bọ trĩ (Thrips sp.)
Triệu chứng cây mai bị bọ trĩ gây hại

          Bọ trĩ trưởng thành và ấu trùng đều chích hút dinh dưỡng ở lá non. Triệu chứng thể hiện dưới mặt lá non là 2 vệt màu xám song song với gân chính. Đọt non bị hại thường sần sùi, cứng và giòn, hai mép lá và chóp lá cong lên. Khi bị hại nặng lá bị vàng và dễ bị rụng, cây phát triển kém.

          Trưởng thành và ấu trùng thường sống tập trung ở đọt non, gân lá non, ít di chuyển. Khi những lá bị hại chuyển sang giai đoạn bánh tẻ và già, thức ăn không còn phù hợp, chúng lại di chuyển sang những lá non khác để chích hút và gây hại. Bọ trĩ thường gây hại nặng trong mùa khô, khi mùa mưa đến bọ trĩ gây hại nhẹ hơn.

Bênh bọ trĩ trên cây mai

          Khi tưới nước cho cây mai, dùng loại máy bơm có áp suất mạnh xịt thẳng vào những nơi cư trú của bọ trĩ để rửa trôi bớt chúng; mặt khác cũng sẽ làm giảm bớt được mật số của một số đối tượng dịch hại khác đang gây hại trên cây mai như nhện đỏ, rệp sáp… Khi mật số bọ trĩ cao có thể sử dụng một số loại thuốc như: Malvate 21EC, Trebon 10EC, Confidor 100SL, Admire 50EC, Regent 5SC, Vimite 10ND, Bifentox 30ND, Virigent 800WG…Về liều lượng và cách pha chế nên theo khuyến cáo có in sẵn trên nhãn thuốc. Khi phun, chú ý phun tập trung vào mặt dưới của lá non, đọt non. Ngoài ra, để hạn chế tác hại của bọ trĩ, nên trồng thưa để vườn mai luôn được thông thoáng.

  1. Nhện đỏ (Tetranychus sp.)

          Nhện đỏ ngoài gây hại trên cây mai, chúng còn gây hại trên rất nhiều loại cây trồng như cây ăn trái, cây rau màu và một số loại cây hoa kiểng khác.  Nhện thường tập trung thành từng đám ở mặt dưới các lá già, chích hút nhựa. Đôi khi nhện còn tập trung ở các mắt thân làm lá vàng và rụng. Nhện đỏ thường gây hại nặng trong các tháng mùa nắng.

Triệu chứng nhện đỏ gây hại cây mai

          Do cơ thể của nhện rất nhỏ vì thế để phát hiện nhện cần phải dùng kính lúp kiểm tra hoặc ngắt những lá mai nghi ngờ có nhện đặt vào giữa hai tờ giấy trắng rồi lấy tay vuốt nhẹ phía ngoài tờ giấy, nếu thấy trên mặt giấy có những chấm nhỏ màu vàng xanh, hồng hay đỏ thì lá đó đang có nhện gây hại, những chấm này càng nhiều thì chứng tỏ mật độ của nhện càng cao. Nhện trưởng thành và nhện non đều ăn biểu bì và chích hút dịch của lá từ khi lá bước vào giai đoạn bánh tẻ trở đi, tạo ra những đốm lá trắng vàng có thể dễ nhận ra ở mặt trên của lá; còn ở mặt dưới của lá có những vết trắng lấm tấm giống bụi cám. Khi bị hại nặng bộ lá bị cằn lại, thô cứng và sẽ ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển bình thường của cây mai.

         Không nên trồng hoặc đặt các chậu quá sát nhau để luôn tạo độ thông thoáng cho vườn mai. Thường xuyên kiểm tra bộ lá mai (nhất là những lá từ giai đoạn bánh tẻ trở đi) để phát hiện sớm và có biện pháp diệt trừ nhện kịp thời. Khi cần thiết có thể sử dụng một trong các loại thuốc sau: Danitol 10EC; Comite 73EC; Pegasus 500SG; Ortus 5SC; Cascade 5EC; Nissuran 5EC; Sirbon 5EC; Kelthane 18,5EC…Chú ý phải sử dụng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng và  luân phiên các loại thuốc để tránh nhện đỏ kháng thuốc.

DKH – VKC