Kết quả quan trắc, cảnh báo môi trường nước nuôi trồng thủy sản nước lợ (Ngày thu mẫu 29/6/2022)

1. Chất lượng nước nuôi tôm nước lợ

a) Huyện Nhà Bè

– Chỉ tiêu lý hóa

+ Chỉ số NH4-N (<0,01mg/l), DO (4,45 – 4,58mg/l), COD (4,80 – 6,08mg/l), Cd và Pb (không phát hiện), photphat tổng và sunfua (không phát hiện), độ trong, nhiệt độ nằm trong giới hạn cho phép;

+ Chỉ số pH (6,77 – 6,89), độ mặn (0 – 4‰), độ kiềm (30,5 – 35,0mg CaCO3/l) và BOD5 (4,95 – 7,35mg/l) thấp hơn giới hạn cho phép;

+ Chỉ số TSS tại các khu vực đều vượt giới hạn cho phép (108 – 116mg/l).

– Chỉ tiêu vi sinh: Khu vực Cầu Sóc Vàm và Bến Đò Kinh Lộ có sự hiện diện của Aeromonas (0,01 – 0,03×103CFU/ml) và Coliform (2,4×102 – 4,6×103CFU/ml) với mật độ thấp, trừ khu vực Rạch Tôm có sự hiện diện của Aeromonas (4,266×103CFU/ml) và Coliform (2,4×104CFU/ml) với mật độ cao;

+ Đa số các khu vực đều có sự hiện diện của E.Coli với mật độ cao (2,4 x 102 – MPN/100ml).

Đo quan trắc tại các sông đầu nguồn

b) Huyện Cần Giờ

– Chỉ tiêu lý hóa

+ Chỉ số NH4-N (<0,01mg/l), DO (4,48 – 4,62mg/l), COD (4,48 – 8,32 mg/l), Cd (không phát hiện), Pb (KPH – 0,0041), photphat tổng và sunfua (không phát hiện), nhiệt độ, độ trong tại các khu vực nằm trong giới hạn cho phép;

+ Chỉ số pH tại khu vực Rạch Gốc Tre nằm trong giới hạn cho phép (7,27), các khu vực còn lại thấp hơn giới hạn cho phép (6,80 – 6,94);

+ Độ mặn tại đa số các khu vực nằm trong giới hạn cho phép (6 – 14‰). Trừ khu vực Bông Giếng, Rạch Đước (BK), Kinh Bà Tổng, Kinh Hốc Hỏa và Rạch Đước (TTH) thấp hơn giới hạn cho phép (2 – 4‰);

+ Độ kiềm tại khu vực Rạch Gốc Tre và Rạch Ông Thành nằm trong giới hạn cho phép (68,5 – 69,0mg CaCO3/l), các khu vực còn lại thấp hơn giới hạn cho phép (28,0 – 45,0mg CaCO3/l);

+ Chỉ số BODtại khu vực Cống T3 và Rạch Ông Thành nằm trong giới hạn cho phép (22,05 – 25,30mg/l); các khu vực còn lại đều thấp hơn giới hạn cho phép (4,45 – 13,45mg/l);

+ Chất rắn lơ lửng TSS tại các khu vực đều vượt giới hạn cho phép (105 – 142mg/l).

– Chỉ tiêu vi sinh: Khu vực Tắc Tây Đen, Doi Tiều, Rạch Gốc Tre, Cống T3, Rạch Ông Thành có sự hiện diện của Vibrio spp với mật độ thấp (0,01-0,13×103CFU/ml). Khu vực Bông Giếng, Rạch Đước (BK), Kinh Bà Tổng, Kinh Hốc Hỏa và Rạch Đước (TTH) có độ mặn (<5‰) có sự hiện diện của Aeromonas với mật độ thấp (0,01 – 0,07 x 103CFU/ml); không có sự hiện diện của Vibrio phát sáng (CFU/ml);

+ Đa số các khu vực có sự hiện diện của Coliform với mật độ thấp (4,6×102 – 4,6×103MPN/100ml), trừ khu vực Kinh Bà Tổng và Rạch Đước (TTH) có sự hiện diện của Coliform với mật độ cao (1,1×104 – 2,4×104MPN/100ml);

+ Khu vực Rạch Đước (BK), Kinh Bà Tổng, Tắc Tây Đen, Doi Tiều và Cống T3 có sự hiện diện của E.Coli (<3MPN/100ml), các khu vực còn lại có sự hiện diện của E.Coli với mật độ cao (2,4 x 102 – 1,1 x 104MPN/100ml).

2. Chất lượng môi trường nước nhuyễn thể huyện Cần Giờ

– Chỉ tiêu lý hóa

+ Độ pH nằm trong giới hạn thích hợp (7,00 – 7,74);

+ Độ mặn tại các khu vực dao động trong khoảng (26 – 30‰), riêng khu vực Đuôi Sam (4) có độ mặn 10‰;

+ Độ kiềm tại các khu vực trong khoảng (75,5 – 102,5mg CaCO3/l); NH4-N (<0,01mg/l);

+ COD tại các khu vực nằm trong khoảng (2,72 – 10,16mg/l);

+ BOD5 tại đa số các khu vực dao động trong khoảng (15,55 – 22,05mg/l); trừ khu vực Hòa Hiệp, Đuôi Sam (4), Đầu Kinh 50 Thạnh An và Ngang Trạm  Biên Phòng Thạnh An (BPTA) dao động trong khoảng (12,65 – 14,70mg/l);

+ Chỉ số TSS vượt giới hạn cho phép (110 – 137mg/l);

+ Pb (KPH – 0,0024); Cd, photphat tổng và sulfua không khát hiện.

– Chỉ tiêu vi sinh: khu vực Đầu Vàm TA có sự hiện diện của Vibrio spp với mật độ thấp (0,23×103CFU/ml); các khu vực còn lại đều có sự hiện diện của Vibrio spp với mật độ cao (1,155 – 10,65×103CFU/ml);

+ Đa số các khu vực có sự hiện diện của Vibrio phát sáng (80 – 355CFU/ml), trừ khu vực Đuôi Sam, Ngang Trạm BPTA (và Đầu Vàm TA không có sự hiện diện của Vibrio phát sáng;

+ Đa số các khu vực có sự hiện diện của Coliform (2,4×102MPN/100ml) và E. Coli (<3MPN/100ml) với mật độ thấp; trừ khu vực Cofidex A, Hòn Ngọc Phương  Nam, Sân Quẹo, Hòa Hiệp, Đuôi Sam và Đầu Vàm TA có sự hiện diện của Coliform với mật độ cao (1,1×103– 2,4×104MPN/100ml).

3. Khuyến cáo

a) vùng nuôi tôm

– Đối với nguồn nước cấp đầu vào: Cần tuân thủ qui trình xử lý ban đầu (diệt tạp, diệt khuẩn, giảm hàm lượng chất rắn lơ lửng bằng các hóa chất được phép sử dụng) nhằm hạn chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh đảm bảo chất lượng nước phù hợp nhất trước khi đưa vào ao nuôi, đặc biệt các khu vực nguồn nước tự nhiên có sự xuất hiện Coliform, E.Coli phải có giải pháp kiểm soát hiệu quả: Định kỳ bổ sung chế phẩm sinh học (vi sinh, enzyme,…) và quản lý tốt chất lượng nguồn nước trong quá trình nuôi;

– Đối với các ao đang cải tạo chuẩn bị nuôi: Cần tuân thủ quy trình kỹ thuật trong cải tạo ao, bơm cấp nước và xử lý môi trường đảm bảo phù hợp các chỉ tiêu thủy, lý hóa, vi sinh,… trước khi thả giống. Đối với con giống cần lựa chọn những cơ sở đủ điều kiện, chất lượng con giống được xét nghiệm không mang mầm bệnh và đảm bảo các yêu cầu cảm quan theo quy định;

– Đối với ao đang nuôi: Cần duy trì mực nước trên 1m và thường xuyên kiểm tra các thông số chất lượng nước, quản lý việc cho ăn và sức khỏe đàn tôm, chú ý đề phòng tôm bị sốc do môi trường thay đổi đột ngột. Đồng thời, kiểm tra bờ ao tránh sạt lở, rò rỉ để ngăn phèn từ bên ngoài vào bên trong ao nuôi. Trong các trường hợp lấy nước, cần phải qua ao lắng xử lý theo đúng qui trình kỹ thuật, lưu ý cần bổ sung vôi để nâng độ kiềm lên mức phù hợp;

– Để nâng độ kiềm tại các điểm thu mẫu thấp hơn giới hạn (<60mg CaCO3/L) và ổn định độ pH trong ao nuôi, người nuôi tôm có thể sử dụng vôi (CaCO3, Ca(MgCO3)2,..);

– Bổ sung men tiêu hóa và các chất giúp tăng cường sức đề kháng, hỗ trợ hệ miễn dịch cho thủy sản nuôi như: Vitamin C, Beta-glucan,… khi thời tiết thay đổi;

– Để hạn chế sự phát sinh và lây nhiễm mầm bệnh: Sử dụng dụng cụ riêng biệt cho từng ao và hạn chế đi lại giữa các ao; khoanh vùng cách ly tuyệt đối với khu vực có tôm nghi nhiễm bệnh và có biện pháp xử lý tránh lây lan dịch bệnh ra xung quanh. Chú ý: không sử dụng các sản phẩm có chứa hoạt chất là gốc thuốc trừ sâu như Deltamethrin, Cypermethrin,… để diệt giáp xác;

b) Khuyến cáo nuôi nhuyễn thể

– Khuyến cáo người dân tuyệt đối không nên thả nghêu giống không rõ nguồn gốc;

– Nên thả nuôi mật độ từ 180-200 con/m2; cỡ giống nuôi từ 400 – 600 con/kg;

– Đối với nghêu đạt cỡ thu hoạch thì khẩn trương thu hoạch tránh thiệt hại xảy ra;

– Đối với nghêu chưa đạt cỡ thu hoạch thì chủ động san thưa không để mật độ nuôi quá dày;

– Chú ý vệ sinh bãi nuôi nghêu sau khi thu hoạch (cào, xới, hoặc bơm rửa, sát trùng bãi nuôi,…). Khai thông các vùng đọng nước để tránh hiện tượng đọng nước cục bộ, gây nhiệt độ tăng cao vào buổi trưa làm nghêu chết.

      (Trích từ nguồn Chi cục Thủy sản TP.HCM)

                                                                              Th.S Nguyễn Thị Gái Nhỏ            

                                                          (Phòng kỹ thuật – Trung tâm Khuyến nông)