Kết quả quan trắc, cảnh báo môi trường nước nuôi thủy sản nước lợ (Ngày thu mẫu 15/9/2022)
04/10/20221.Chất lượng nước vùng nuôi tôm
a) Huyện Nhà Bè
– Chỉ tiêu lý hóa
+ Chỉ số BOD5 (7,34 – 8,97mg/l), Cd (không phát hiện), Pb (0,003 – 0,005) photphat tổng và sunfua (không phát hiện) nằm trong giới hạn cho phép.
– Chỉ tiêu vi sinh: khu vực Cầu Sóc Vàm và Rạch Tôm có sự hiện diện của Coliform với mật độ thấp (2,4 – 4,6 x 103MPN/100ml), trừ khu vực Bến Đò Kinh Lộ có sự hiện diện của Coliform với mật độ cao (1,1×104MPN/100ml)
+ Các khu vực có sự hiện diện của E.Coli với mật độ cao (2,4 x 102 – 2,4 x 103MPN/100ml).
b) Huyện Cần Giờ
– Chỉ tiêu lý hóa
+ Chỉ số BOD5 (8,16 – 22,03 mg/l), Cd và sunfua (không phát hiện), Pb (KPH – 0,006), photphat tổng (KPH) tại các khu vực nằm trong giới hạn cho phép;
– Chỉ tiêu vi sinh: đa số các khu vực có sự hiện diện của Coliform với mật độ thấp (2,4×102 – 2,4×103MPN/100ml). Trừ khu vực Kinh Hốc Hỏa, Doi Tiều và Cống T3 có sự hiện diện của Coliform với mật độ cao (1,1 x 104 – 1,1 x 105MPN/100ml). Các khu vực có sự hiện diện của E.Coli với mật độ cao (2,4 x 102 – 1,1 x 104MPN/100ml).
Hình ảnh lấy mẫu nước nuôi tôm
c) Chất lượng môi trường nước vùng nuôi nhuyễn thể huyện Cần Giờ
– Chỉ tiêu lý hóa
+ Cd và sulfua (không khát hiện), Pb (KHP – 0,0016 mg/l), photphat tổng (không khát hiện) nằm trong giới hạn cho phép;
+ BOD5 tại đa số các khu vực nằm trong giới hạn cho phép (8,98 – 16,32 mg/l), trừ khu vực Cofidex (A) và Hòn N.P.Nam cao hơn giới hạn cho phép (69,36 – 115,9mg/l);
– Chỉ tiêu vi sinh: khu vực Vàm Cát Lái và Hòa Hiệp có sự hiện diện của Coliform (< 3 – 4,6 x 102MPN/100ml) và E. Coli (< 3MPN/100ml) với mật độ thấp. Các khu vực còn lại có sự hiện diện của Coliform (2,4 – 4,6 x 102MPN/100ml) với mật độ cao
2. Khuyến cáo
a) Đối với nuôi tôm:
– Hiện nay thời tiết vào mùa mưa, nhiệt độ thường biến động lớn khi có mưa dễ gây sốc nhiệt, dễ phát sinh bệnh. Để giảm tác hại cho tôm nuôi, cơ sở nuôi cần đảm bảo mực nước trong ao cao nhằm ổn định nhiệt độ, sử dụng chế phẩm sinh học xử lý ao nuôi, giúp phân hủy các chất lắng tụ làm sạch đáy và nước ao nuôi;
– Đối với nguồn nước cấp đầu vào: cần tuân thủ qui trình xử lý ban đầu (diệt tạp, diệt khuẩn, giảm hàm lượng chất rắn lơ lửng bằng các hóa chất được phép sử dụng) nhằm hạn chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh đảm bảo chất lượng nước phù hợp nhất trước khi đưa vào ao nuôi, đặc biệt các khu vực nguồn nước tự nhiên có sự xuất hiện Coliform, E.Coli phải có giải pháp kiểm soát hiệu quả: định kỳ bổ sung chế phẩm sinh học (vi sinh, enzyme,…) và quản lý tốt chất lượng nguồn nước trong quá trình nuôi;
– Đối với các ao đang cải tạo chuẩn bị nuôi: cần tuân thủ quy trình kỹ thuật trong cải tạo ao, bơm cấp nước và xử lý môi trường đảm bảo phù hợp các chỉ tiêu thủy, lý hóa, vi sinh,… trước khi thả giống. Đối với con giống cần lựa chọn những cơ sở đủ điều kiện, chất lượng con giống được xét nghiệm không mang mầm bệnh và đảm bảo các yêu cầu cảm quan theo quy định;
– Đối với ao đang nuôi: cần duy trì mực nước trên 1m và thường xuyên kiểm tra các thông số chất lượng nước, quản lý việc cho ăn và sức khỏe đàn tôm, chú ý đề phòng tôm bị sốc do môi trường thay đổi đột ngột. Đồng thời kiểm tra bờ ao tránh sạt lở, rò rỉ để ngăn phèn từ bên ngoài vào bên trong ao nuôi. Trong các trường hợp lấy nước, cần phải qua ao lắng xử lý theo đúng qui trình kỹ thuật, lưu ý cần bổ sung vôi để nâng độ kiềm lên mức phù hợp;
– Bổ sung men tiêu hóa và các chất giúp tăng cường sức đề kháng, hỗ trợ hệ miễn dịch cho thủy sản nuôi như: Vitamin C, Beta-glucan,… khi thời tiết thay đổi;
– Để hạn chế sự phát sinh và lây nhiễm mầm bệnh, cần có biện pháp ngăn chặn sự xâm nhập của các ký chủ trung gian mang mầm bệnh (cua, còng, …) như rào chắn kỹ quanh khu vực nuôi và ngăn lưới giữa các ao nuôi; sử dụng dụng cụ riêng biệt cho từng ao và hạn chế đi lại giữa các ao; khoanh vùng cách ly tuyệt đối với khu vực có tôm nghi nhiễm bệnh và có biện pháp xử lý tránh lây lan dịch bệnh ra xung quanh. Chú ý không sử dụng các sản phẩm có chứa hoạt chất là gốc thuốc trừ sâu như Deltamethrin, Cypermethrin,… để diệt giáp xác;
b) đối với nuôi nghêu
– Khuyến cáo người dân tuyệt đối không nên thả nghêu giống không rõ nguồn gốc;
– Nên thả nuôi mật độ từ 180-200 con/m2; cỡ giống nuôi từ 400 – 600 con/kg; không thả giống vào thời điểm thời tiết không thuận lợi (từ tháng 01 – 3 âm lịch);
– Đối với nghêu đạt cỡ thu hoạch thì khẩn trương thu hoạch tránh thiệt hại xảy ra;
– Đối với nghêu chưa đạt cỡ thu hoạch thì chủ động san thưa không để mật độ nuôi quá dày;
– Chú ý vệ sinh bãi nuôi nghêu sau khi thu hoạch (cào, xới, hoặc bơm rửa, sát trùng bãi nuôi,…). Khai thông các vùng đọng nước để tránh hiện tượng đọng nước cục bộ, gây nhiệt độ tăng cao vào buổi trưa làm nghêu chết.
(Nguồn trích từ Chi Cục Thủy sản TP.HCM)
Th.S Nguyễn Thị Gái Nhỏ (tổng hợp)







Năm nay : 464926
Tổng số lượt truy cập : 971720
Lượt truy cập hôm nay : 3924
Đang truy cập : 17