Hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi về biện pháp xử lý thức ăn chăn nuôi vi phạm chất lượng theo Nghị định 13/2020/NĐ-CP của Chính Phủ

Ngày 21/01/2020 vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 13/2020/NĐ-CP về việc hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi. Nội dung Nghị định có 7 Chương và 35 điều, cụ thể:

Theo đó, quy mô chăn nuôi đối với gia súc, gia cầm và các loại vật nuôi khác được xác định theo nguyên tắc: Đối với gia súc, gia cầm: Được xác định bằng số lượng đơn vị vật nuôi tại cơ sở chăn nuôi cùng thời điểm; Đối với các loại vật nuôi khác: Được xác định bằng số lượng vật nuôi tại cơ sở chăn nuôi cùng thời điểm; Đối với cơ sở chăn nuôi hỗn hợp gồm gia súc, gia cầm và vật nuôi khác: gồm tổng số đơn vị vật nuôi của gia súc, gia cầm, số lượng từng loại vật nuôi khác.

Ảnh minh họa

Trong đó, quy mô chăn nuôi gia súc, gia cầm được quy định như sau: Chăn nuôi trang trại quy mô lớn: Từ 300 đơn vị vật nuôi trở lên; Chăn nuôi trang trại quy mô vừa: Từ 30 đến dưới 300 đơn vị vật nuôi; Chăn nuôi trang trại quy mô nhỏ: Từ 10 đến dưới 30 đơn vị vật nuôi; Chăn nuôi nông hộ: Dưới 10 đơn vị vật nuôi (Cách tính đơn vị vật nuôi theo bảng hướng dẫn Phụ lục V về Hệ số đơn vị vật nuôi và công thức chuyển đổi)

Chính phủ giao nhiệm vụ cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh thành có trách nhiệm kiểm tra điều kiện chăn nuôi của cơ sở chăn nuôi trang trại quy mô vừa và nhỏ, tần suất kiểm tra là 03 năm/01lần.

Ngoài ra, tại Điều 20 Nghị định này nêu rõ, thức ăn chăn nuôi vi phạm chất lượng sẽ bị xử lý bằng một hoặc một số biện pháp sau: Thứ nhất, buộc tái xuất: Tổ chức, cá nhân vi phạm phải thực hiện thủ tục tái xuất theo quy định về hải quan và nộp hồ sơ tái xuất về cơ quan kiểm tra Nhà nước về chất lượng thức ăn chăn nuôi; Thứ hai, buộc tiêu hủy: Tổ chức, cá nhân có thức ăn chăn nuôi vi phạm chất lượng bị áp dụng biện pháp tiêu hủy phải ký hợp đồng với tổ chức, cá nhân có chức năng tiêu hủy hàng hóa vi phạm. Nội dung hợp đồng phải nêu rõ biện pháp tiêu hủy để cơ quan kiểm tra nhà nước về chất lượng thức ăn chăn nuôi giám sát; Thứ ba, buộc tái chế: Tổ chức, cá nhân vi phạm thực hiện tái chế theo phương án phù hợp, đảm bảo sản phẩm sau tái chế có chất lượng phù hợp tiêu chuẩn công bố; Thứ tư, buộc chuyển mục đích sử dụng: Tổ chức, cá nhân vi phạm phải chuyển đổi mục đích sử dụng sản phẩm theo phương án phù hợp; Thứ năm, buộc cải chính thông tin: Tổ chức, cá nhân vi phạm thực hiện cải chính thông tin sản phẩm theo kết quả kiểm tra thực tế trên nhãn hoặc tài liệu kèm theo trước khi đưa sản phẩm ra thị trường hoặc trước khi sử dụng.

Trong Điều 12 về thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh, Nghị định nêu rõ tiêu chí đối với một số loại vật nuôi ở giai đoạn con non được sử dụng thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh để phòng bệnh được quy định như sau: Heo con có khối lượng đến 25kg hoặc từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi; Gà, vịt, ngan, chim cút từ 01 – 21 ngày tuổi; Thỏ từ sơ sinh đến 30 ngày tuổi; Bê, nghé từ sơ sinh đến 06 tháng tuổi. Đặc biệt, chỉ được sử dụng kháng sinh trong sản xuất thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho gia súc, gia cầm và thức ăn tinh cho gia súc ăn cỏ.

Về điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi, Nghị định quy định chi tiết 2/10 điều kiện mà tổ chức, cá nhân sản xuất thức ăn chăn nuôi thương mại, thức ăn chăn nuôi theo đặt hàng phải đáp ứng. Cụ thể, dây chuyền sản xuất, trang thiết bị tiếp xúc với thức ăn chăn nuôi phải được làm bằng vật liệu dễ vệ sinh, không gây nhiễm chéo, không thôi nhiễm chất độc hại từ thiết bị sang thức ăn chăn nuôi; Khu vực chứa thức ăn chăn nuôi bảo đảm thông thoáng, có đủ ánh sáng để quan sát bằng mắt thường, có giải pháp chống ẩm để không làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm; cơ sở sản xuất sinh khối vi sinh vật phải có thiết bị tạo môi trường, lưu giữ và nuôi cấy vi sinh vật.

Cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi phải có biện pháp để kiểm soát tạp chất (cát sạn, kim loại, bụi) gây nhiễm bẩn vào sản phẩm; kiểm soát, phòng, chống động vật xâm nhập vào khu vực sản xuất, khu lưu trữ sản phẩm; phòng, chống mối mọt; thu gom, xử lý chất thải để tránh nhiễm bẩn cho sản phẩm và bảo đảm vệ sinh môi trường; bảo hộ, vệ sinh cho người lao động và khách tham quan khu vực sản xuất.

Nghị định cũng quy định về điều kiện chăn nuôi như: Quy mô chăn nuôi; Mật độ chăn nuôi đối với các vùng; Cấp, cấp lại, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi đối với chăn nuôi trang trại quy mô lớn; Đánh giá điều kiện chăn nuôi trang trại quy mô lớn; Quản lý nuôi chim yến, hươu sao và danh mục động vật khác được phép chăn nuôi. Trong đó, về mật độ chăn nuôi, Nghị định quy định: Diện tích đất nông nghiệp làm căn cứ để xác định mật độ chăn nuôi bao gồm tổng diện tích các loại đất nông nghiệp theo quy định của pháp luật về đất đai. Các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được quy định thành 6 vùng để xác định mật độ chăn nuôi.

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 05/03/2020.

 

M.H