Cục Bảo vệ thực vật công nhận tiến bộ kỹ thuật đối với quy trình quản lý tính kháng thuốc bảo vệ thực vật của nhện đỏ hại cây có múi

  Quản lý tính kháng thuốc bảo vệ thực vật của nhện đỏ (Panonychus citri McGregor) hại cây ăn quả có múi dựa trên nguyên tắc áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) được công nhận là tiến bộ kỹ thuật theo Quyết định số 750/QĐ-BVTV ngày 25/4/2017của Cục Bảo vệ thực vật. Nội dung của tiến bộ kỹ thuật là việc áp dụng các biện pháp như:
1. Biện pháp canh tác:
– Bón phân: Thực hiện theo quy trình kỹ thuật canh tác từng cây ăn quả có múi do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh, thành phố ban hành, chỉ đạo. Lưu ý bón đầy đủ phân hữu cơ hoai mục.
+ Đối với vườn kiến thiến cơ bản: bón 4 lần/năm, các loại phân bón: phân hữu cơ hoai mục, phân hữu cơ vi sinh và phân hóa học (đạm, lân, kali hoặc NPK tổng hợp)
+ Đối với vườn kinh doanh: bón phân hữu cơ hoai mục, phân hữu cơ vi sinh và phân hóa học (đạm, lân, kali hoặc NPK tổng hợp). Lượng phân bón tăng dần theo từng năm và năng suất thu hoạch. Chú ý bón đúng theo giai đoạn sinh trưởng của cây (sau thu hoạch, trước khi ra hoa, sau đậu quả, nuôi quả lớn).
– Tưới nước: Đảm bảo đủ nước trong mùa khô hanh (tưới 7 – 10 ngày/lần). Tưới phun lên tán lá với áp lực cao có thể hạn chế được mật độ nhện đỏ.
– Tỉa cành, tạo tán: Thực hiện sau mỗi vụ thu hoạch khi có cành vượt…
2. Biện pháp sinh học:
– Bảo vệ thiên địch tự nhiên: không sử dụng thuốc hóa học liên tục để bảo vệ các loài thiên địch: Bọ rùa đen nhỏ Stethorus punctillum, bọ rùa đen 2 chấm Stethorus sp., nhện nhỏ bắt mồi Phytoseiulus sp., Amplyseiu sp., chuồn chuồn cỏ Chrysopa sp., bọ cánh cứng ngắn Oligota sp., bọ trĩ bắt mồi 6 chấm Scolothrips sp.,..
– Ưu tiên sử dụng các thuốc sịnh học, thảo mộc được phép dùng trên cây ăn quả: Các thuốc có hoạt chất Abamectin (Abagro 1.8EC, 4.0EC), Azadirachtin (Jasper 0.3EC), và dầu khoáng Petroleum spray oil (SK Enspray 99EC, dầu khoáng DS98.8EC), các thuốc được dùng trên cây cam: Abamectin (Catex 1.8EC, Reasgant 1.8EC), Azadirachtin (Trutat 0.32EC), Matrine (Sokupi 0.36SL, Sakumec 0.36EC), Rotenone (Trusach 2.5EC), Emamectin benzoate (Tasieu 1.9EC; trên cây bưởi: Emamectin benzoate (Vimatox 1.9EC).
3. Biện pháp hóa học:
– Thời điểm phòng trừ: Điều tra định kỳ diễn biến mật độ nhện đỏ cam chanh để xác định thời điểm phòng trừ (điều tra 7 ngày/lần). Chỉ sử dụng thuốc hóa học khi mật độ nhện 4 – 5 con/lá hoặc 10% số lá, quả bị hại. Thường xuyên kiểm tra ruộng, vườn, phát hiện sớm các điểm gây hại của nhện, phun thuốc phòng trừ kịp thời để tránh lây lan trên diện rộng.
Chú ý sự xuất hiện và gây hại của nhện đỏ canh chanh vào các tháng 3 – 5, 9 -10 (ở miền Bắc), tháng 2 – 5 và 11 ở miền Nam.
– Loại thuốc sử dụng: Sử dụng các thuốc trong danh mục thuốc BVTV được phép dùng trên cây ăn quả có múi: Pyridaben (Alfamite 15EC), Propargite (Comite 73EC), các thuốc được dùng trên cây cam: Diafenthiuron (Kyodo 25SC, Detect 50 WP),  Propargite (Kamai 730EC).
Các thuốc mà nhện đỏ cam chanh chưa biểu hiện tính kháng (Ri < 10)  thì sử dụng 01 lần/năm. Những thuốc hóa học mà nhện đỏ cam chanh đã biểu hiện tính kháng (Ri >10) phải luân phiên với các thuốc hóa học khác nhóm chưa biểu hiện tính kháng (Ri <10), hoặc luân phiên với thuốc sinh học, thảo mộc, dầu khoáng và lúc này mỗi loại thuốc hóa học nên sử dụng 01 lần/02 năm.
– Phương pháp sử dụng: Sử dụng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng (đúng thời điểm, đúng thuốc, đúng nồng độ và liều lượng, đúng cách) và khi phun ưu tiên sử dụng bình phun máy cao áp, phun kỹ 2 mặt lá. Lượng thuốc 400 – 600 lít/ha.

B.Nhật