Cách chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại trên cây dưa lưới trồng trong nhà màng

1. Chăm sóc
   – Treo cây, kẹp gốc: Sau khi trồng 7-10 ngày (cây cao khoảng 50cm) tiến hành treo cố định cây, sử dụng dây để buộc sát gốc dưa lưới. Dùng kẹp dây cố định cây dưa hoặc quấn ngọn dưa lưới theo dây buộc hàng ngày.
– Tỉa chồi, kẹp nhánh: Theo dõi khi cây phát triển đến nhánh thứ 10 thì tiến hành kẹp nhánh. Tỉa bỏ các cành cấp 1 từ nách lá thứ nhất đến nách lá thứ 9, để lại các cành cấp 1 mang trái từ lá thứ 10 trở lên để thụ phấn, cành mang trái để lại 2 lá thật đầu tiên, cắt bỏ các cành còn lại không mang trái. Chú ý tạo độ thông thoáng cho cây từ gốc đến nhánh thứ 9 giúp cây tập trung dinh dưỡng nuôi trái.
+ Thụ phấn: Có thể thụ phấn bằng Ong mật hoặc bằng tay.
Thụ phấn bằng Ong mật: Sử dụng 2 tổ, mỗi tổ 4 cầu cho diện tích  1.000m2. Bắt đầu thả ong khi cây xuất hiện hoa cái đầu tiên (tương đương khoảng 15 – 20 ngày sau khi trồng), thả vào lúc trời mát buổi sáng.
Thụ phấn bằng tay: Khi cây xuất hiện hoa cái thì tiến hành thụ phấn, sử dụng phấn hoa đực để chụp lên đầu nhụy hoa cái (hoa đực thường hình thành trên thân chính, hoa cái hình thành tại các nhánh phụ). Thao tác thoa hạt phấn trên đầu nhụy cái cần phải nhẹ, đều để quả đẹp và đều nhau. Thời gian thực hiện thụ phấn trước 9h sáng, tiến hành thụ phấn liên tục trong vòng 7 ngày, trung bình 3 – 5 bông cái/cây. Khi 100% cây đậu quả thì ngừng thụ phấn. Sau khi thụ phấn xong nên làm dấu tránh cho việc thụ phấn lại nhụy hoa cái đã được thụ phấn.
Với điều kiện khí hậu của Thành phố Hồ Chí Minh, nên áp dụng thụ phấn bằng tay để tỷ lệ đậu quả cao, thời gian đậu quả và chất lượng quả đồng đều.

+ Vị trí để trái: Mỗi cây để lại từ 1- 2 quả, để quả ở lá thứ 10 – 15. Khi trái đạt đường kính trên 2cm thì tiến hành tỉa trái, tỉa hết các cành nách tạo thông thoáng và hạn chế sự tiêu hao dinh dưỡng.
+ Bấm ngọn thân chính: Sau khi quả có đường kính từ  2 – 4 cm thì tiến hành hãm ngọn (lúc này cây đã có lá thứ 23- 25, tương đương khoảng 40 ngày sau trồng) để cây tập trung dinh dưỡng nuôi trái.
Việc tỉa nhánh, bấm đọt, tỉa trái nên thực hiện vào buổi sáng nhằm tránh tạo cơ hội cho mầm bệnh xâm nhập qua vết thương.

2. Phòng trừ sâu bệnh hại
 Nhà màng trồng dưa lưới tuy có sử dụng lưới ngăn côn trùng nhưng nếu trồng liên tục thì sau nhiều vụ trồng, trong nhà màng sẽ xuất hiện một số côn trùng gây hại cho cây, chủ yếu là bọ trĩ, bọ phấn, rầy mềm, bệnh khảm, bệnh phấn trắng. Nên thường xuyên đặt bẫy dính trong nhà màng để hạn chế côn trùng gây hại. Chỉ sử dụng các loại thuốc hóa học khi tình trạng sâu bệnh hại nghiêm trọng, nên sử dụng thuốc có tính tiếp xúc, phân hủy nhanh và có thời gian cách ly ngắn, đồng thời tuân thủ theo nguyên tắc “4 đúng”: đúng thuốc, đúng liều lượng và  nồng độ, đúng lúc, đúng cách. Chỉ sử dụng các loại thuốc BVTV trong danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng trên cây rau tại Việt Nam
Một số loài sâu bệnh hại chủ yếu:
– Bọ trĩ (Thrips palmi Karny):
  + Thành trùng có màu vàng, khi đậu xếp cánh mái nhà trên lưng, tạo thành đường sọc nâu đen ở giữa lưng, đốt cuối bụng hình nón, chiều dài khoảng 1mm. Trứng hình hạt đậu màu trắng. Ấu trùng có màu trắng khi mới nở và chuyển sang màu vàng nhạt, vàng đậm khi lớn, cơ thể ấu trùng trong suốt. Nhộng giả có màu vàng đậm và hình dạng giống như ấu trùng nhưng có mầm cánh. Bọ trĩ phát triển mạnh trong điều kiện thời tiết nóng và khô. Vòng đời trung bình 15-18 ngày. Chúng gây hại nặng từ giai đoạn cây con đến ra hoa, đậu trái.
+ Biện pháp phòng trừ: Có thể áp dụng tổng hợp các biện pháp như dùng bẫy dính dẫn dụ bọ trĩ, sử dụng thiên địch như nhện nhỏ Amblyseius cucumber và các loại bọ xít bắt mồi Orius sauteri và Orius strigicolly. Chăm sóc cho cây sinh trưởng tốt. Trong mùa khô nóng, tưới đều đặn bằng cách phun mưa để cho vườn dưa ẩm và mát, hạn chế bọ trĩ phát triển. Ngắt bỏ những lá, hoa có mật độ bọ trĩ cao. Bọ trĩ có sức kháng thuốc cao và mau quen thuốc, vì vậy cần dùng các thuốc có tác dụng tiếp xúc mạnh và thay đổi loại thuốc giữa các lần phun. Sử dụng các thuốc có hoạt chất Thiamethoxam (Actara 25WG); Matrine (Sokupi 0.36AS); Dinotefuran (Oshin 20WP), Spinetoram (Radiant 60SC). Lưu ý, khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật thì phải sử dụng thuốc được phép sử dụng trên cây rau.
– Bọ phấn (Bemisia tabaci):
   + Bọ trưởng thành có kích thước nhỏ. Hai đôi cánh trước và sau dài gần bằng nhau. Trên cơ thể phủ một lớp sáp màu trắng, chân dài và mảnh. Trứng rất nhỏ hình bầu dục, có cuống, mới đẻ màu trắng trong sau chuyển sang màu nâu nhạt rồi thành màu nâu xám. Sâu non màu vàng nhạt, hình ô van. Nhộng giả hình bầu dục, màu sáng, có lông thưa ở 2 bên sườn.
Bọ trưởng thành hoạt động vào sáng sớm và chiều mát. Sâu non bò chậm chạp trên lá, cuối tuổi 1 chúng ở mặt dưới lá, tại đó lột xác và sống cố định cho đến lúc hoá trưởng thành. Bọ phấn hút nhựa cây làm cho cây có thể bị héo, ngã vàng và chết. Bọ phấn tiết ra dịch ngọt là môi trường cho nấm muội đen phát triển. Bọ phấn còn truyền các bệnh virus gây bệnh cho cây.
+ Biện pháp phòng trừ: Có thể áp dụng tổng hợp các biện pháp như vệ sinh vườn trồng, ngắt bỏ lá già, các bộ phận bị hại đặc biệt là các loại cỏ dại là ký chủ của bọ phấn xung quanh vườn nhằm hạn chế lây lan.
Dùng bẫy dính màu vàng để thu hút và tiêu diệt bọ phấn trưởng thành (áp dụng để dự báo thời điểm xuất hiện của trưởng thành).
Khi bọ phấn xâm nhập vào nhà màng có thể dùng luân phiên các loại thuốc có hoạt chất Thiamethoxam (Actaza 25WG), Dinotefuran (Oshin 20WP, Chat 20WP); Oxymatrine (Vimatrine 0,6L); Citrus oil (MAP Green 10AS), Galic Juice (BioRepel 10SL, Bralic – dầu tỏi 1,25SL), Pyrethrins 2,5% + Rotenone 0,5% + (Biosun 3EW).
Lưu ý, khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật thì phải sử dụng thuốc được phép sử dụng trên cây rau.

– Bệnh phấn trắng
  + Bệnh này do nấm Erysiphe cichoracearum De Candolle gây ra. Bệnh xuất hiện, phá hại ngay từ thời kỳ cây con hại lá, thân, cành. Ban đầu trên lá xuất hiện những chòm nhỏ mất màu xanh hóa vàng dần, bao phủ một lớp nấm trắng xám dày đặc như bột phấn, bao trùm tất cả phiến lá. Lá bệnh chuyển dần từ màu xanh sang vàng, lá khô cháy và rất dễ rụng. Bệnh nặng lớp phấn trắng xuất hiện trên cả thân, cành, hoa làm hoa khô và chết. Bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình quang hợp, làm rụng lá, cây sinh trưởng kém, năng suất giảm.
Trong thời kỳ sinh trưởng, bệnh lây lan nhanh bằng bào tử nhờ không khí và gió. Bào tử phân sinh nảy mầm thuận lợi ở nhiệt độ 20 – 240C và độ ẩm không khí cao. Tuy vậy, bệnh vẫn có thể phát triển được trong điều kiện khô hạn. Sợi nấm và quả thể bảo tồn trên tàn dư cây bệnh.
+ Biện pháp phòng trừ bệnh phấn trắng: Có thể áp dụng tổng hợp các biện pháp như đặc biệt chú ý thu dọn sạch tàn dư thân lá bị bệnh, tiêu diệt cỏ dại. Ngắt bỏ lá bệnh. Mật độ trồng thưa hợp lý. Có thể Phun thuốc phòng trừ kịp thời ngay sau khi phát hiện bệnh. Dùng Score 250EC (Difenoconazole), Mighty 560SC(Azoxystrobin60g/l + Chlorothalonil 500g/l), Map hero 340WP (Azoxystrobin 60g/kg + Dimethomorph 250g/kg + Fosetyl-aluminium 30g/kg).
– Bệnh sương mai giả
   + Bệnh này do nấm Pseudoperonospora cubensis gây ra. Bệnh phát sinh gây hại trên tất cả các bộ phận của cây, nhưng phổ biến nhất là trên lá. Vết bệnh ban đầu là những chấm nhỏ, không màu hoặc màu xanh nhạt sau đó chuyển sang màu xanh vàng đến nâu nhạt, hình tròn đa giác hoặc hình bất định. Vết bệnh nằm rải rác trên lá hoặc nằm dọc các gân lá thường có góc cạnh và bị giới hạn bởi các gân lá.
Khi gặp điều kiện thời tiết thuận lợi, quan sát mặt dưới lá, chỗ vết bệnh thường thấy một lớp nấm mọc thưa, màu trắng xám (nên dễ nhầm lẫn với bệnh phấn trắng), bệnh nặng gây rách các mô tế bào, thậm chí làm lá biến dạng, cây phát triển yếu, toàn lá héo khô và chết.
Bệnh thường gây hại từ lá gốc phát sinh dần lên phía trên. Bệnh phát sinh sớm từ khi cây có 3 lá thật và càng cuối vụ càng nặng. Bệnh gây hại làm lá rụng, dưa tàn sớm giảm năng suất cây trồng. Bệnh lây lan qua tàn dư cây bệnh, cỏ dại. Trong điều kiện thuận lợi nấm bệnh lây lan bằng bào tử phân sinh. Sự phát triển của bệnh rất thuận tiện khi có điều kiện ẩm độ cao và nhiệt độ tương đối thấp thích hợp.
+ Biện pháp phòng trừ: Có thể áp dụng tổng hợp các biện pháp như vệ sinh đồng ruộng, thu dọn tàn dư cây trồng. Mật độ trồng thưa hợp lý không quá dày để tránh bớt ẩm độ cao khi cây giao tán. Bón phân cân đối N-P-K. Kết hợp với việc ngắt bỏ bớt lá già, lá sâu bệnh, dọn sạch cỏ dại. Có thể dùng một số loại thuốc BVTV để phun trừ khi bệnh chớm xuất hiện và gặp điều kiện thời tiết thuận lợi cho sự phát sinh gây hại của bệnh: Aliette 800WG (Fosetyl Aluminium), Binyvil 70WP, 80 WP, 81WP (Fosetyl-aluminium 25%  (8%), (1%) + Mancozeb 45% (72%), (80%)),… Ở những vùng đang có bệnh, phun phòng khi dưa có 3 – 4 lá thật bằng các thuốc Zineb bul 80WP (Zineb), Topulas 70WP (Thiophanate-methyl (min 93%)), Propman bul 550SC (Mancozeb 301.6g/l + Propamocarb.HCl 248g/l),…
– Bệnh lở cổ rể
   + Bệnh này do nấm Rhizoctonia solani gây ra là chủ yếu. Tuy nhiên, tuỳ điều kiện thời tiết, chế độ canh tác có thể do nhiều loại nấm có trong đất gây ra như Pythium spp., Fusarium solaniFusarium sp. v.v.
Bệnh chủ yếu gây hại ở phần cổ rễ, phần gốc sát mặt đất. Khi mới xuất hiện, nếu quan sát kỹ có thể thấy những vết bệnh có màu khác với vỏ cây, phần vỏ này bị rộp lên, sau đó lan dần bao quanh toàn bộ phần cổ rễ hoặc gốc cây. Dần dần phần vỏ này khô teo lại, khi gặp trời mưa hoặc độ ẩm cao sẽ bị thối nhũn, bong ra, trơ lại phần lõi gỗ của cây có màu thâm đen, cây sẽ héo dần và chết.
Vào những ngày có nhiều sương mù hoặc lúc sáng sớm ta có thể thấy lớp tơ màu trắng bám nơi vết bệnh. Vài ngày sau, trên thân cây và vùng đất xung quanh gốc cây bị bệnh xuất hiện nhiều đốm hạch màu vàng nâu bám xung quanh đó. Các bào tử nấm này thường lây lan trong môi trường nước và xâm nhập qua các vết thương cơ giới hoặc các lỗ khí khổng của lá khi có điều kiện môi trường thuận tiện. Bệnh thường phát sinh, phát triển mạnh trong điều kiện độ ẩm cao, nhiệt độ cao hoặc mưa, nắng, rét, nóng thất thường.
+ Biện pháp phòng trừ: Có thể áp dụng tổng hợp các biện pháp như thường xuyên vệ sinh vườn trồng, trồng đúng mật độ, khoảng cách nhằm tạo độ thông thoáng, giảm độ ẩm, hạn chế nấm bệnh phát sinh, phát triển. Nhổ bỏ và đem tiêu hủy hết các cây bị bệnh để tránh lây lan ngay khi mới phát hiện. Có thể phun ngừa hoặc phun trừ bằng một trong các loại thuốc sau: Dithane M45 (Mancozeb), Rovral 50 WP (Iprodione),…

– Bệnh nứt thân chảy nhựa
   + Bệnh này do nấm Mycosphaerella melonis gây ra. Nấm tồn tại trong tàn dư cây bệnh, lây lan bằng bào tử. Thời tiết nóng và mưa nhiều thích hợp cho bệnh phát triển.
+ Bệnh gây hại chủ yếu trên thân, đôi khi trên lá và cuống quả. Trên thân vết bệnh lúc đầu là đốm hình bầu dục, màu xám trắng, kích thước 1- 2 cm, vết bệnh hơi lõm, làm khuyết một bên thân hay nhánh. Trên vùng bệnh, nhựa màu nâu đỏ ứa ra thành giọt, sau đổi thành màu nâu sẫm và khô cứng lại. Bệnh nặng làm thân cây bị nứt thành vệt dài và chảy nhựa nhiều hơn, trên đó có những hạt nhỏ màu đen (các ổ bào tử nấm), cả cây có thể bị khô chết. Trên lá, đốm bệnh không đều đặn và lan rộng dần, có màu nâu xám nhạt. Bệnh thường xuất hiện từ bìa lá lan vào theo những mảng hình vòng cung, trên đó có các ổ bào tử màu đen, lá bị cháy, khô rụng. Trên cuống quả, triệu chứng bệnh giống như trên thân, có thể nứt và chảy nhựa, quả nhỏ hoặc bị rụng sớm.
+ Biện pháp phòng trừ: Có thể áp dụng tổng hợp các biện pháp như thu dọn tàn dư cây trồng. Bón phân đạm vừa đủ. Có thể phun ướt đẫm cây dưa và gốc bằng các loại thuốc: Dithane M-45 80WP, 600OS (Mancozeb (min 85%)), Manozeb 80 WP (Mancozeb (min 85%),…

KS. Lê Đình Chức – (Trưởng Trạm Trình diễn và Dạy nghề Nông nghiệp- TTKN Tp.HCM)