Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Quyết định phê duyệt Đề án phát triển các vùng sản xuất rau an toàn, tập trung, bảo đảm truy xuất nguồn gốc gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ đến năm 2030
30/01/2024Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (PTNT) vừa ký ban hành quyết định số 4765/QĐ-BNN-TT ngày 9/11/2023 phê duyệt Đề án phát triển các vùng sản xuất rau an toàn, tập trung, bảo đảm truy xuất nguồn gốc gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ đến năm 2030.
Theo đó, mục tiêu chung của Đề án là việc phát triển các vùng sản xuất rau an toàn, tập trung, bảo đảm truy xuất nguồn gốc gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ nhằm đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng rau trong nước và một phần xuất khẩu, phát triển bền vững ngành hàng rau, góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, an toàn vệ sinh thực phẩm, nâng cao sức khỏe cộng đồng.
Mục tiêu cụ thể đến năm 2030, sản lượng rau cả nước đạt 23 – 24 triệu tấn; trong đó sản lượng rau phục vụ chế biến khoảng 1 – 1,3 triệu tấn. Trên 95% số mẫu rau được thanh tra, kiểm tra đạt tiêu chuẩn an toàn. Tỷ lệ diện tích rau an toàn, tập trung, đảm bảo truy xuất nguồn gốc chiếm khoảng 30% tổng diện tích gieo trồng rau cả nước. Giá trị kim ngạch xuất khẩu rau đạt khoảng 1 – 1,5 tỷ USD.
Đối với định hướng phát triển sản xuất rau cả nước: Đến năm 2030, định hướng diện tích rau cả nước đạt khoảng 1,2 – 1,3 triệu ha. Trong đó, nhóm rau chủ lực gồm: rau cải các loại diện tích khoảng 200 – 220 ngàn ha; dưa hấu diện tích khoảng 50 – 60 ngàn ha; dưa chuột (dưa leo) diện tích 50 – 60 ngàn ha; hành, tỏi diện tích 55 – 60 ngàn ha; rau họ đậu diện tích 50 – 55 ngàn hoa; ớt cay diện tích 40 – 50 ngàn ha; cà chua diện tích 25 – 30 ngàn ha. Nhóm rau khác chiếm khoảng 60% tổng diện tích gieo trồng rau cả nước, gồm các loại: rau muống; bầu, bí; khoai tây; cà rốt; rau gia vị; cà các loại; rau bản địa….
Đối với định hướng phát triển sản xuất rau an toàn, tập trung, bảo đảm truy xuất nguồn gốc gắn với chế biến: Đến năm 2030, diện tích rau an toàn, tập trung, bảo đảm truy xuất nguồn gốc cả nước khoảng 360 – 400 nghìn ha; trong đó diện tích rau phục vụ chế biến khoảng 50 – 60 nghìn ha, gồm các loại: cà chua, dưa chuột, ớt cay, khoai tây, một số loại rau cải… Diện tích rau an toàn, tập trung, bảo đảm truy xuất nguồn gốc phân chia theo các vùng như sau: Đồng bằng sông Hồng, Trung du miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long.
Để thực hiện các mục tiêu trên, Bộ Nông nghiệp và PTNT cũng đã đặt ra 06 giải pháp thực hiện trong thời gian tới như:
Một là, về tổ chức sản xuất các tỉnh, thành cần xác định quy mô vùng sản xuất tập trung. Tiếp tục thực hiện chính sách thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp định hướng quy mô vùng trồng rau, ưu tiên tại các vùng tập trung; thúc đẩy hình thành các chuỗi liên kết sản xuất rau từ xây dựng vùng trồng đến chế biến, tiêu thụ sản phẩm.
Hai là, về khoa học công nghệ cần tiếp tục đầu tư lưu giữ nguồn gen các giống rau, nhất là nhóm rau bản địa; chọn tạo, sản xuất hoặc nhập nôi các giống rau mới, giống lai f1 có năng suất, chất lượng cao, chống chịu sâu bệnh hại, thích ứng điều kiện biến đổi khí hậu. Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện quy chuẩn kỹ thuật sản xuất rau an toàn theo hướng ứng dụng công nghệ cao, bền vững; tăng cường sử dụng phân bón hữu cơ, vi sinh và thuốc bảo vệ thực vật sinh học; hạn chế sử dụng hóa chất vô cơ; chuyển giao quy trình sản xuất rau an toàn vào thực tiễn sản xuất.
Ba là, về thị trường tiêu thụ cần tiếp tục hỗ trợ xây dựng thương hiệu sản phẩm rau an toàn, gắn với mã số vùng trồng; đa dạng hóa các kênh phân phối; đẩy mạnh hoạt động kết nối.
Bốn là, về quản lý nhà nước tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chính sách liên quan đến phát triển sản xuất rau an toàn; thường xuyên thanh tra, kiểm tra các cơ sở sản xuất, kinh doanh vật tư đầu vào và đầu ra sản phẩm rau.
Năm là, về đầu tư tăng cường năng lực cần thực hiện đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư phát triển sản xuất rau theo hướng xã hội hóa, chủ yếu là vốn của doanh nghiệp và người dân. Các hộ gia đình đầu tư hình thành vùng sản xuất rau tập trung. Hợp tác xã, Tổ hợp tác liên kết với các hộ gia đình và doanh nghiệp đầu tư cơ sở sơ chế, bảo quản rau. Doanh nghiệp đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu, cơ sở sơ chế, nhà máy chế biến, thương hiệu sản phẩm rau,…
Sáu là, về hợp tác quốc tế cần tăng cường trao đổi nguồn gen cây rau; nghiên cứu chọn tạo hoặc nhập nội các g iống rau mới, các giống lai; xây dựng các quy chuẩn kỹ thuật sản xuất rau an toàn phù hợp với các nước nhập khẩu rau; quản trị chuỗi sản xuất, sơ chế, bảo quản, chế biến rau; quản lý các yếu tố gây ô nhiễm nguồn nước và đất trồng rau; xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ các sản phẩm rau…
Trúc Minh







Năm nay : 482570
Tổng số lượt truy cập : 989364
Lượt truy cập hôm nay : 173
Đang truy cập : 10