Thực trạng, định hướng và giải pháp phát triển cá cảnh tại Tp.HCM
09/02/2017Việt Nam là nước có tiềm năng phát triển về nghề cá cảnh, trong đó thành phố Hồ Chí Minh (Tp.HCM) được xem là trung tâm cá cảnh lớn nhất cả nước
và được xác định là đối tượng thủy sản phát triển phù hợp với ngành nông nghiệp đô thị của thành phố từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025.
▲Thực trạng cá cảnh tại Tp.HCM.
Hiện nay trên địa bàn thành phố có khoảng 286 cơ sở hoạt động về nuôi và sản xuất cá cảnh, khu vực sản xuất tập trung nhiều nhất ở Quận 8, Quận 12 và rải rác một số quận ven khác như Quận 9, Gò Vấp, Bình Thạnh và huyện Bình Chánh.
Số lượng sản xuất và tiêu thụ cá cảnh tại thành phố đạt khoảng 15-17 triệu con, trong đó doanh số bình quân mỗi hộ đạt 80-100 triệu đồng/năm (thấp nhất 20 triệu đồng, cao nhất là 300 triệu đồng/năm), tỉ lệ lãi trên doanh số từ 30-70%. Vốn xây dựng cơ bản 30-50 triệu đồng (thấp nhất 10 triệu đồng, cao nhất 150 triệu đồng), vốn lưu động bình quân 10-15 triệu đồng (thấp nhất 2 triệu đồng, cao nhất 100 triệu đồng).Theo đó, năm 2015 sản lượng cá cảnh được sản xuất ước tính đạt 120 triệu con, tăng 100% so với năm 2010 (60 triệu con); đối tượng sản xuất chủ yếu vẫn là cá bảy màu, hòa lan, hồng kim, mô ly, bình tích, dĩa, xiêm, la hán, ông tiên, chép, vàng, sặc, phượng hoàng, tứ vân, mũi đỏ,… trong đó nhóm cá đẻ con (moly, bình tích, trân châu, hồng kim, hòa lan, bảy màu) chiếm tỷ lệ 56%, nhóm cá đẻ trứng (neon, sọc ngựa, tứ vân, xiêm, chuột) chiếm tỷ lệ 43%, cá giá trị cao (cá đĩa) chiếm tỷ lệ 1%.
Cá xiêm ( Cá Đá)
Còn sản lượng cá cảnh xuất khẩu ước đạt 13 triệu con (năm 2015) với giá trị kim ngạch ước đạt 12 triệu USD, tăng 100% về giá trị so với năm 2010 có 7,5 triệu con với kim ngạch đạt 6 triệu USD, trong đó các đối tượng chủ lực bao gồm: cá neon đạt 2,8 triệu con; moly, bình tích, trân châu đạt 2,4 triệu con; bảy màu đạt 0,8 triệu con; cá xiêm đạt 0,18 triệu con; cá dĩa đạt 0,1 triệu con. Chủng loại cá cảnh nước ngọt xuất khẩu hơn 70 loài khác nhau (không tăng so với năm 2010), trong đó 50 loài nuôi sinh sản nhân tạo và 20 loài khai thác tự nhiên thuần dưỡng làm cảnh. Những loài có tỉ lệ xuất khẩu cao hàng năm là cá dĩa, neon, bảy màu, mô ly, hòa lan, phượng hoàng, chạch rắn, lòng tong, bướm bầu, thủy tinh còn lại là cá xiêm, sặc, ông tiên, tai tượng.
Hiện Tp.HCM có trên 10 công ty và trại cá cảnh tham gia xuất khẩu thường xuyên, trong đó Công ty Cổ phần Sài Gòn Cá Kiểng (huyện Củ Chi) là đơn vị xuất khẩu chiếm tỉ trọng cao nhất trong 10 năm qua. Thị trường xuất khẩu cá cảnh Việt Nam rất đa dạng, phong phú với 47 quốc gia (tăng 29 quốc gia so với năm 2010) trong đó thị trường châu Âu (CHLB Đức, Cộng hòa Czech, Anh, Thụy điển, Đan Mạch, Pháp, Ý, Thụy Sĩ) chiếm 60 – 70 %, thị trường Châu Mỹ (Mỹ, Canada, Braxin), Châu Á (Singapore, Mã Lai, Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan, Thái Lan và một số nước Trung Đông) và Nam Phi chiếm 30 – 40%.
Từ năm 2012 – 2015, Trung Tâm khuyến nông và Chi cục Quản lý chất lượng và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản thành phố triển khai “mô hình thực hành quản lý tốt trong sản xuất cá cảnh trên địa bàn Tp.HCM” cho các cơ sở và hộ gia đình sản xuất, kinh doanh cá cảnh. Đến nay, các cơ sở và hộ gia đình tham gia mô hình đều đáp ứng yêu cầu kiểm soát các mối nguy trong quản lý sản xuất, an toàn dịch bệnh, giảm thiểu tác động đến môi trường, tiến tới nâng cao trình độ kỹ thuật và hiệu quả sản xuất, ương nuôi, thuần dưỡng cá cảnh có chất lượng. Việc áp dụng quy trình thực hành quản lý tốt, đã giúp kiểm soát được rủi ro trong quá trình sản xuất, ương nuôi, thuần dưỡng cá cảnh; áp dụng khoa học kỹ thuật, quản lý vào sản xuất nhằm tạo sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, chất lượng cao về kiểu hình, màu sắc, tỷ lệ sống, đa dạng hóa sản phẩm. Từ đó đưa đến lợi nhuận tối ưu cho người sản xuất, có sức cạnh tranh tham gia vào thị trường thế giới thông qua việc mở rộng thị trường xuất khẩu.
▲ Định hướng và giải pháp cho hoạt động cá cảnh tại Tp.HCM:
Từ thực trạng trên để hoạt động cá cảnh tại thành phố phát triển bền vững cần có những định hướng và giải
pháp như: Tiếp tục duy trì khu vực sản xuất cá cảnh ở các quận nội thành và các quận ven như: Quận 8, 9, 12 và Gò Vấp, đồng thời phát triển mạnh nuôi cá cảnh ở các khu vực có khả năng tập trung cao tại các huyện: Củ Chi, Bình Chánh; Hình thành khu vực chuyên sâu về nghiên cứu lai tạo cá cảnh trong Khu Nông nghiệp Công nghệ cao tại huyện Củ Chi; Nghiên cứu phát triển cá tự nhiên dùng làm cá cảnh (chọn lọc, thuần dưỡng, sinh sản nhân tạo) và lai tạo giống loài mới có giá trị kinh tế cao; Xây dựng hệ thống sản xuất cá cảnh thân thiện với môi trường, an toàn dịch bệnh phục vụ xuất khẩu.
Trong đó, cần chú ý về quy hoạch như ở huyện Củ Chi, ngoài làng nghề cá cảnh Trung An – Phú Hòa Đông có chủ trương chung của thành phố, huyện nên quy hoạch khu vực ven các hệ thống kênh Đông như xã Phước Hiệp rất thuận lợi cho việc cấp nước sạch ươm, nuôi cá cảnh; Còn ở huyện Bình Chánh, hiện đa số các nghệ nhân cá cảnh ở quận 8 đang di dời đến sản xuất tập trung ở một số xã: Bình Lợi, Hưng Long, Phong Phú, Tân Nhựt, vì vậy UBND huyện cần quy hoạch ở các địa phương trên; Duy trì các cơ sở hiện hữu sản xuất cá cảnh trong bể kiếng và bể xi măng với các quận nội thành, huyện ven gồm các phường 14, 15, 16 (quận 8), phường Thạnh Xuân, An Phú Đông (quận 12); xã Đông Thạnh (Hóc Môn).
Bên cạnh đó cũng cần chú ý những giải pháp về giống và KHKT như: Tiếp tục nghiên cứu, khai thác, thuần dưỡng và sinh sản nhân tạo một số loài cá tự nhiên dùng làm cá cảnh; Nghiên cứu sinh sản nhân tạo một số loài cá cảnh thuộc loài quý hiếm, có giá trị kinh tế cao (cá Dĩa, Còm, Chạch, Thái Hổ, Neon…). Đồng thời, nhập một số giống cá cảnh mới dùng làm bố mẹ sinh sản cung cấp cho thị trường nội địa và xuất khẩu; Tập trung nghiên cứu lai tạo và sản xuất một số giống mới, nhằm đáp ứng thị trường xuất khẩu; Xây dựng danh mục cá cảnh nuôi phù hợp với điều kiện sinh thái từng vùng, từng hệ thống nuôi; cẩm nang hướng dẫn kỹ thuật sản xuất giống, nuôi thương phẩm; định mức các yếu tố về kỹ thuật, kinh tế – xã hội trong sản xuất. Tổ chức tham quan học tập, nghiên cứu kỹ thuật nuôi và lai tạo cá cảnh ở một số nước trong khu vực (Thái Lan, Singapore, Trung Quốc). Nghiên cứu các biện pháp phòng và điều trị hiệu quả một số bệnh thường gặp trên cá cảnh; Xây dựng hệ thống sản xuất phù hợp với môi trường, an toàn dịch bệnh phục vụ xuất khẩu.
Cần tăng cường các giải pháp thị trường tiêu thụ, xúc tiến thương mại như: xây dựng Danh mục cá cảnh thành phố, lập trang thông tin điện tử về cá cảnh để quảng bá, giới thiệu danh sách cơ sở sản xuất, kinh doanh để khách hàng trong và ngoài nước tiện giao dịch mua bán. Giới thiệu tiến bộ, nghiên cứu khoa học kỹ thuật về sản phẩm mới ra nước ngoài và ngược lại, cập nhật những giống, loài mới sinh sản nhân tạo thành công, tiến bộ khoa học – kỹ thuật giới thiệu đến người nuôi; Củng cố tăng cường hoạt động các tổ chức nghề nghiệp như Hội, Chi hội cá cảnh. Tập hợp các cơ sở sản xuất, kinh doanh và nghệ nhân thành các tổ hợp tác, làng nghề, hợp tác xã cá cảnh trên các địa bàn trọng điểm để tổ chức sản xuất và tiêu thụ cá cảnh.
Ngoài ra, cần đẩy mạnh xây dựng mô hình liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ thông qua các tổ hợp tác, hợp tác xã, làng nghề, đầu mối xuất khẩu thông qua Hội, Hiệp hội; Thực hiện liên kết với các tỉnh có lợi thế về nghề nuôi và giàu tiềm năng phát triển cá cảnh. Bởi ngành nuôi cá cảnh ngày nay không chỉ dành cho việc thưởng ngoạn, giải trí mà nó còn trở thành một ngành mũi nhọn kinh tế của ngành thủy sản ở Tp.HCM.
Dương Sỹ





Năm nay : 185853
Tổng số lượt truy cập : 1202828
Lượt truy cập hôm nay : 1765
Đang truy cập : 15